Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147/2023/HS-ST

Ngày: 15-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Triệu Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lâm Bình Đăng

2/ Ông Nguyễn Công Chiếm

Thư ký phiên tòa: Ông Triệu Việt Anh - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 177/2023/TLST-HS, ngày 22 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 690/2023/QĐXXST-HS, ngày 31/7/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Ý Đ, sinh năm 1997; Nơi sinh: Tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: 20/3 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: 20/3 ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông Nguyễn Vương Đ1, sinh năm 1973, con bà Trần Thị Diễm H, sinh năm 1976; Anh chị em ruột: 02 người, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm là bị can; Vợ con: chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Quyết định số 528/QĐ-TA ngày 18/7/2019 của Tòa án nhân dân Quận 12 quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Ý Đ, thời hạn chấp hành: 18 tháng. Chấp hành xong ngày 10/11/2020 (bút lục 64-65).

Bị cáo tạm giam từ ngày 26/4/2023 cho đến nay, (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 07/8/2022, Huỳnh Thanh S gọi điện thoại rủ Trần Quốc L đi trộm cắp tài sản là xe mô tô đem bán lấy tiền tiêu xài thì L đồng ý. Sau đó, S chuẩn bị sẵn bộ đoản hình chữ T cất giấu trong người, L điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda Winner, biển số: 70L1-522.37 đến chở S ngồi sau lưu thông đi ngang qua cửa hàng W, địa chỉ: B, đường T, Khu phố C, phường Đ, Quận A thì S phát hiện 01 xe môtô

nhãn hiệu Honda Wave, biển số: 59G2-339.67 của chị Nguyễn Thị Minh T, không người trông coi nên S nói L dừng xe lại cách khoảng 02 mét để S đi bộ đến sử dụng bộ đoản hình chữ T để bẻ khóa lấy trộm xe môtô biển số: 59G2-339.67 rồi nhanh chóng tẩu thoát về đầu hẻm B, Khu phố E, phường T, Quận A thì S gọi điện thoại cho K (chưa rõ lai lịch) để bán xe môtô biển số: 59G2-339.67 nhưng không gọi được nên L gọi điện thoại cho Nguyễn Ý Đ để nhờ bán giúp xe môtô biển số: 59G2-339.67 vừa trộm được. Khi gọi điện, L nói với Đ là xe không có giấy tờ nhưng Đ vẫn đồng ý giúp L tìm kiếm chỗ để cầm cố xe mô tô nêu trên vì Đ không biết chỗ bán. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số: 62P1-480.64 đến chở H1 (bạn gái Đ) đến và đi trước dẫn đường cho L điều khiển xe môtô biển số: 70L1-522.37, S điều khiển xe mô tô biển số: 59G2-339.67 đi đến tiệm C, địa chỉ: 3, đường N, ấp H, xã B, huyện H do Đỗ Văn T1 làm chủ. Đ biết xe mô tô biển số: 59G2-339.67 không có giấy tờ và nhìn thấy ổ khóa xe bị hư hỏng nên nhận thức được xe mô tô nêu trên là xe do phạm tội mà có. S và Đ vào trong gặp Lê Việt T2 (nhân viên tiệm cầm đồ) để hỏi cầm cố xe mô tô biển số: 59G2-339.67 còn L và H1 đứng bên ngoài, T2 kiểm tra xe mô tô biển số: 59G2-339.67 phát hiện ổ khóa xe bị hư và xe không giấy tờ thì biết là xe do phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý cầm cố với số tiền 6.000.000 đồng nhưng không làm biên nhận rồi T2 giao số tiền 6.000.000 đồng cho Đ. Đ đưa lại cho L thì L cho Đ số tiền 500.000 đồng là tiền công Đức đã đi tiêu thụ xe mô tô biển số: 59G2-339.67. Số tiền còn lại 5.500.000 đồng S và L chia đôi mỗi người 2.750.000 đồng và đã tiêu xài hết. Sau khi mua xe môtô biển số: 59G2-339.67 do sợ Cơ quan Công an phát hiện nên T2 đã tháo biển số: 59G2-339.67 và thay bằng biển số: 50Y1-347.79.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận A, Nguyễn Ý Đ đã khai nhận toàn bộ nội dung sự việc như đã nêu trên (bút lục 46-52). Quá trình điều tra, Nguyễn Ý Đ đã bỏ đi khỏi địa phương đến ngày 26/4/2023, Đ bị bắt theo quyết định truy nã.

Tại Bản án số 53/2023/HS-ST ngày 20/4/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12 đã tuyên phạt Huỳnh Thanh S, Trần Quốc L về tội “Trộm cắp tài sản” và bị cáo Lê Việt T2 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

*Vật chứng vụ án và xử lý vật chứng:

- 01 (một) xe mô tô biển số nhãn hiệu Honda Wave biển số 50Y1-347.97 (biển số thật là 59G2-339.67), số máy: JA39E0280284, số khung: RLHJA3905HY280260;

- 01 (một) biển số 59G2-339.67, thu giữ của Lê Việt T2 tại tiệm C;

- 01 (một) xe mô tô biển số nhãn hiệu Honda Winner biển số 70L1-522.37, số máy: KC26E-1223726, số khung: RLHKC2604GY379096, là phương tiện L và S sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội;

- 01 (một) xe mô tô biển số nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 62P1-480.64, số máy: G3D4E-003408, số khung: RLCUG0610EY003405, là xe của Nguyễn Ý Đ sử dụng đi tìm người tiêu thụ tài sản;

- 01 (một) USB ghi nhận hình ảnh vụ “Trộm cắp tài sản” xảy ra ngày 07/8/2022 tại phường Đ, Quận A.

Các vật chứng nêu trên đã được giải quyết trong vụ án Huỳnh Thanh S cùng đồng phạm theo Bản án số 56/2023/HS-ST ngày 20/4/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12.

Bản cáo trạng số: 141/CT-VKS, ngày 21/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Nguyễn Ý Đ về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, nêu lên những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị:

- Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Ý Đ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 500.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết bằng Bản án số 56/2023/HSST ngày 20/4/2023.

Về xử lý vật chứng:

Toàn bộ số vật chứng trên đã được Tòa án nhân dân Quận 12 đã xử lý xong bằng Bản án số 56/2023/HS-ST ngày 20/4/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12.

Bị cáo Đ khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về đoàn tụ gia đình.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ

quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Ý Đ khai nhận về hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, vật chứng thu giữ và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 07/8/2022, Nguyễn Ý Đ biết rõ xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển số 59G2-339.67 ổ khóa bị hư, xe không có giấy tờ, là xe do phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý giúp Trần Quốc L và Huỳnh Thanh S đem đến cho Lê Việt T2 để T2 nhận cầm cố tài sản, sau đó T2 đã tháo biển số 59G2-339.67 để thay bằng biển số 50Y1-347.97. Hành vi của bị cáo Nguyễn Ý Đ đã cấu thành tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự công cộng; ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy phải bị xử phạt nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội. Tuy nhiên, cần xem xét cho bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; nên cần áp dụng điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Đã giải quyết bằng Bản án số 56/2023/HS-ST ngày 20/4/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính 500.000 (năm trăm ngàn) đồng của bị cáo Nguyễn Ý Đ (chưa thu).

Về vật chứng của vụ án:

Toàn bộ số vật chứng trên đã được Tòa án nhân dân Quận 12 đã xử lý xong bằng Bản án số 56/2023/HS-ST ngày 20/4/2023 của Tòa án nhân dân Quận 12.

Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh gia đình bị cáo có khó khăn, cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đ phải nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ý Đ: 09 (chín) tháng tù, về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2023.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất chính 500.000 (năm trăm ngàn) đồng của bị cáo Nguyễn Ý Đ (Chưa nộp).

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Ý Đ phải nộp là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM (1b);
  • - VKSND TPHCM (1b);
  • - Sở Tư pháp TPHCM (1b);
  • - Phòng PC53 CA TP. HCM; (01)
  • - VKSND Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan điều tra CA Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan THAHS CA Quận 12 (1b);
  • - Chi cục THADS Quận 12 (1b);
  • - UBND phường nơi bị cáo cư trú(1b);
  • - Bị cáo, bị hại (2b);
  • - Bộ phận THA Hình sự (5b);
  • - Lưu (vt, hs) (8b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA

Triệu Thị Thùy Trang

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Triệu Thị Thùy T3

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 147/2023/HS-ST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 147/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ý Đức
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger