|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU Bản án số: 147/2024/HNGĐ-ST Ngày 09 – 8 – 2024 V/v ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Đào Việt Khái.
- 2. Bà Đoàn Thị Sim.
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Bảo Trân – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 195/2024/TLST - HNGĐ ngày 24/6/2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- 1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim S, sinh năm 1988; Địa chỉ: ấp Thanh Đ, xã Tân H, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- 2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Ư, sinh năm 1981; Địa chỉ: ấp Thanh Đ, xã Tân H, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Chị Nguyễn Thị Kim S và anh Nguyễn Văn Ư tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân H, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau vào năm 2018. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng đến tháng 5 năm 2021, giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân theo chị S trình bày là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến việc vợ chồng thường hay cải vã với nhau, từ đó đời sống chung của vợ chồng không hạnh phúc và anh chị đã sống ly thân cho đến nay, mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai. Nay chị S xác định không còn tình cảm với anh Ư nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ư.
Về con chung, chị S khai chưa có.
Về tài sản chung và nợ chung, chị S khai không có.
Đối với anh Nguyễn Văn Ư (bị đơn), tuy đã được Thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng anh không đến Toà, cũng không gửi văn bản để nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim S (nguyên đơn).
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng đều vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228của Bộ luật tố tụng Dân sự vẫn tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về hôn nhân, nguyên đơn và bị đơn tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2018 nên hôn nhân của các đương sự được pháp luật công nhận và bảo vệ. Do bị đơn không trực tiếp đến Tòa cũng không gửi văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên lời trình bày của nguyên đơn về thời gian chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn được chấp nhận.
Cũng chính từ mâu thuẫn trên, nguyên đơn xác định không còn tình cảm với bị đơn, trường hợp Tòa án giải quyết không cho ly hôn thì nguyên đơn cũng không chung sống với bị đơn nên có căn cứ để nhận định rằng tình trạng hôn nhân giữa các đương sự đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn về việc xin ly hôn với bị đơn là có cơ sở.
[3] Về con chung, nguyên đơn khai chưa có nên không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung, nguyên đơn khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, nguyên đơn phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào các Điều 144, 147 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kim S về việc xin ly hôn anh Nguyễn Văn Ư.
- - Về con chung, chị Nguyễn Thị Kim S chưa có nên không đặt ra xem xét.
- - Về tài sản chung và nợ chung, chị Nguyễn Thị Kim S khai không có, nên không đặt ra xem xét.
Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, chị Nguyễn Thị Kim S phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngày 17/6/2024, chị S đã nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 0003607 được đối trừ, chuyển thu sung quỹ Nhà nước.
Chị S có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Ư vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lâm Hoài Ân |
Bản án số 147/2024/HNGĐ-ST ngày 09/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về ly hôn (hôn nhân và gia đình)
- Số bản án: 147/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và gia đình)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Kim S và anh Nguyễn Văn Ư tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân H, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau vào năm 2018. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng đến tháng 5 năm 2021, giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân theo chị S trình bày là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến việc vợ chồng thường hay cải vã với nhau, từ đó đời sống chung của vợ chồng không hạnh phúc và anh chị đã sống ly thân cho đến nay, mỗi người sống một nơi, không ai quan tâm đến ai. Nay chị S xác định không còn tình cảm với anh Ư nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ư.
