|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 147/2023/HNGĐ-ST Ngày: 06-12-2023 “V/v tranh chấp Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm.
2. Ông Nguyễn Văn Phước.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tường - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 113/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2023 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2023/QÐST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Anh Mai Văn D, sinh ngày 13/5/1970; địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; (có mặt).
-
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hoàng Ngọc T - Luật sư thuộc Công ty L1; địa chỉ: Số A Bà T, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; (có mặt).
-
- Bị đơn: Chị Võ Thị C, sinh ngày 01/01/1972; địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 01-8-2023 và quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn là anh Mai Văn D trình bày:
Thời điểm năm 1987 do điều kiện cuộc sống khó khăn, anh có vào tỉnh Bình Thuận làm việc thì quen biết chị Võ Thị C. Sau thời gian tìm hiểu, anh và chị C quyết định về chung sống với nhau như vợ chồng. Đến năm 1990, vợ chồng quyết định trở về quê làm nhà tạm để sinh sống tại thôn H, xã P, huyện P. Đến ngày 14-7-2004, vợ chồng mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P. Sau khi kết hôn, vợ chồng tiếp tục sinh sống tại địa phương. Thời điểm này, anh làm nghề đánh bắt cá ở biển còn chị C nội trợ gia đình.
Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc không có mâu thuẫn gì nhưng khoảng bốn năm trở lại đây chị C thay đổi tính tình hoàn toàn so với trước đây, không còn sự tôn trọng trong mối quan hệ vợ chồng, coi trọng vấn đề kinh tế. Mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng không còn thấy hợp nhau về tính cách, lối sống do vậy anh và chị C đã không sống chung với nhau được hơn hai năm. Vợ chồng đã không chung sống với nhau thời gian dài mà không hàn gắn được, không có trách nhiệm gì với nhau, nên anh yêu cầu ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 06 người con chung là Mai Thị T1, sinh năm 1989; Mai Thị Đ, sinh năm 1991; Mai Văn C1, sinh năm 1993; Mai Văn D1, sinh năm 1995; Mai Văn V, sinh năm 1997 và Mai Thị Mỹ L, sinh năm 1999. Các con đều đã trên 18 tuổi, sức khoẻ bình thường nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là chị Võ Thị C trong thời hạn quy định không nộp hoặc gửi văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không đưa ra yêu cầu phản tố, ý kiến gì.
Quá trình tố tụng, Toà án đã nhiều lần triệu tập chị C để trình bày ý kiến về về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tiến hành phiên họp công khai tài liệu, chứng cứ và hoà giải nhưng chị C đều vắng mặt không có lý nên không tiến hành được phiên họp cũng như không hòa giải được. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Toà án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập phiên tòa lần thứ nhất vào ngày 26/10/2023 nhưng chị C vắng mặt nên đã hoãn phiên tòa. Tòa án tiếp tục tống đạt Quyết định hoãn phiên toà và giấy triệu tập phiên toà lần thứ hai vào ngày 06/12/2023 nhưng chị C vẫn tiếp tục vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
-
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý, Thẩm phán thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn nhiều lần vắng mặt là không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định. Tại phiên tòa, bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
-
- Về việc giải quyết vụ án: Anh Mai Văn D và chị Võ Thị Chung c sống đã đăng ký kết hôn ngày 14-7-2004 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Vợ chồng có 06 con chung nhưng đều đã trên 18 tuổi. Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để xử chấp nhận cho anh D được ly hôn chị C; về tài sản chung, nợ chung không có yêu cầu nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Toà án nhận định:
-
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là chị Võ Thị C có địa chỉ cư trú tại xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Phong Điền thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.
Về việc bị đơn là chị Võ Thị C đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không thuộc trường hợp do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227. Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn.
-
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Mai Văn D và chị Võ Thị Chung kết h có đăng ký và được Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp Chứng nhận kết hôn ngày 14-7-2004. Thời điểm đăng ký có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy, quan hệ hôn nhân là hợp pháp..
-
[3] Về yêu cầu ly hôn: Trên cơ sở trình bày của nguyên đơn; kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ về nguyên nhân mâu thuẫn và nguyện vọng của vợ, chồng, thấy rằng:
Anh D và chị C mâu thuẫn do không có sự chia sẻ, quan tâm trong cuộc sống hôn nhân. Chị C thiếu sự tôn trọng với anh D, đề cao vấn đề kinh tế trong gia đình trong khi điều kiện công việc của anh D gặp nhiều khó khăn. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập chị C để chị trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tham gia phiên họp nhiều lần nhưng chị C đều vắng mặt, chứng tỏ chị C không có thiện chí hàn gắn, không có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau; cùng chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; không có nghĩa vụ sống chung với nhau theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu cho anh D ly hôn. Như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở.
-
[4] Về con: Các con chung của anh D và chị C đều đã trên 18 tuổi, phát triển bình thường, đương sự không có yêu cầu giải quyết việc nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Anh D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét; trường hợp sau này có tranh chấp thì có quyền khởi kiện trong vụ việc khác.
-
[6] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định án phí và lệ phí Tòa án, buộc nguyên đơn chịu án phí ly hôn theo quy định.
-
[7] Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
-
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Mai Văn D. Cho anh Mai Văn D được ly hôn với chị Võ Thị C; quan hệ vợ chồng chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
-
Về án phí sơ thẩm: Anh Mai Văn D phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng); nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số AA/2021/0006907 ngày 02-8-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; anh D đã nộp đủ án phí.
-
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
-
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Đạt |
Bản án số 147/2023/HNGĐ-ST ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 147/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Mai Văn D xin ly hôn bà Võ Thị C
