|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 147/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 06 - 5 - 2024
Về “Tranh chấp Hôn nhân
và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Hồ Cảnh
Bà Bùi Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại Phòng xử án, Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 339/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1995
- Bị đơn: anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1993.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Đình H, sinh năm 1952; bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1954
Địa chỉ: xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An
Nơi ở hiện nay: N, 10317 B, Cộng hòa Liên bang Đ, vắng mặt (có văn bản xin vắng mặt).
Địa chỉ: xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An.
Nơi ở hiện nay: Cộng hòa Liên bang Đ, vắng mặt (không có lý do).
Địa chỉ: xóm D, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An, vắng mặt (có văn bản xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, lời trình bày, nguyên đơn - chị Nguyễn Thị T trình bày:
Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn T1 tìm hiểu, yêu thương nhau và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An ngày 25 tháng 5 năm 2015. Sau khi chung sống một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do tính tình, quan điểm sống của hai người không hợp nhau dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, xung đột. Quan hệ vợ chồng căng thẳng, tình cảm vợ chồng phai nhạt nên không thể tiếp tục ăn ở cùng nhau và đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Hiện tại hai bên sinh sống, làm việc tại Đức. Chị T yêu cầu Tòa án cho chị T ly hôn anh Nguyễn Văn T1.
Về con chung: chị T, anh T1 có 02 người con chung là Nguyễn Văn Anh K1, sinh ngày 25 tháng 02 năm 2019 và Nguyễn Văn Anh K2, sinh ngày 12 tháng 9 năm 2016, đều đang được ông Nguyễn Đình H, bà Nguyễn Thị K (ông bà ngoại hai cháu) chăm sóc, nuôi dưỡng tại xóm D, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Nếu ly hôn, chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng các con chung và nhờ ông bà ngoại các cháu chăm sóc đến khi chị T về nước; không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn: Quá trình từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện tống đạt thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng cho thân nhân và niêm yết theo quy định, nhưng bị đơn là anh Nguyễn Văn T1 vắng mặt, do đó không có ý kiến.
Chị Nguyễn Thị T không cung cấp được địa chỉ nơi cư trú hoặc làm việc hiện nay của anh T1, chỉ biết anh T1 đang sinh sống tại Đức.
Theo Công văn số 34257/QLXNC-P3 ngày 20/12/2023 của Cục Q - Bộ C thì anh Nguyễn Văn T1 xuất cảnh qua cửa khẩu N ngày 02/7/2019, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Tòa án đã gửi văn bản yêu cầu ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị V (bố mẹ đẻ anh T1), trú tại xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn (anh T1) và yêu cầu ông B, bà V thông báo cho anh T1 biết việc chị T đang khởi kiện ly hôn anh T1 tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, đề nghị gửi lời khai, ý kiến về Tòa án. Ông B cho biết anh T1 hiện nay đang làm việc tại Đức, thường xuyên liên lạc về với ông B và anh T1 cũng đã biết việc chị T đang khởi kiện ly hôn anh T1 tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An; anh T1 đồng ý ly hôn chị T. Còn địa chỉ của anh T1 tại nước ngoài thì anh T1 không cung cấp cho ông B.
Xét thấy, anh T1 đã biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang thụ lý, giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm giữa chị T và anh T1, nhưng đến nay Tòa án vẫn không nhận được văn bản nào thể hiện ý kiến của anh T1 liên quan đến nội dung giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Đình H và bà Nguyễn Thị K trình bày:
Chị T và anh T1 có 02 con chung là cháu Nguyễn Văn Anh K1, sinh ngày 25 tháng 02 năm 2019 và Nguyễn Văn Anh K2, sinh ngày 12 tháng 9 năm 2016. Ông H, bà K là ông bà ngoại cháu K1, cháu K2. Do bố mẹ các cháu làm ăn ở nước ngoài nên ông bà chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K1, cháu K2 từ tháng 5/2023 đến nay.
Nếu chị T, anh T1 ly hôn, ông H, bà K đề nghị Tòa án giao các con chung của chị T, anh T1 cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông, bà tự nguyện tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng hai cháu đến khi chị T về nước, không yêu cầu chị T hoặc anh T1 hoàn trả chi phí nuôi dưỡng cháu K1, cháu K2.
Cháu Nguyễn Văn Anh K1, Nguyễn Văn Anh K2 trình bày: bố mẹ đẻ các cháu là Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn T1, hiện đang ở nước ngoài. Hiện nay hai cháu đang ở cùng ông bà ngoại. Nếu bố mẹ ly hôn, các cháu muốn ở với mẹ (chị T).
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn T1. Về con chung: đề nghị giao con chung Nguyễn Văn Anh K1, sinh ngày 25 tháng 02 năm 2019 và Nguyễn Văn Anh K2, sinh ngày 12 tháng 9 năm 2016 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của ông H, bà K về việc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của chị T, anh T1 trong thời gian chị T, anh T1 ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con: do chị T không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: chị T, anh T1 không yêu cầu, nên không xem xét. Về án phí: chị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng
[1.1] Về thẩm quyền: chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Văn T1 có địa chỉ cư trú tại xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Chị T, anh Nguyễn Văn T1 hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài (Cộng hòa Liên bang Đ) nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự
Đối với nguyên đơn - chị Nguyễn Thị T, ủy quyền cho ông Phạm Thế H1 nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Ông Phạm Thế H1 nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và chị T có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị T là đúng quy định pháp luật.
Đối với bị đơn – anh Nguyễn Văn T1, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật. Việc anh T1 không cung cấp địa chỉ và không có ý kiến về vụ án, thể hiện anh T1 cố tình dấu địa chỉ. Do đó, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Đình H và bà Nguyễn Thị K, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ. Ngày 17/4/2024, ông H, bà K đã có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử vắng mặt ông H, bà K là đúng quy định.
[2] Về nội dung
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn T1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày ngày 25 tháng 5 năm 2015 tại Uỷ tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An, là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, hai bên chung sống một thời gian thì vợ chồng thường xẩy ra mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng, nguyên nhân do tính tình không hợp, quan điểm sống trái ngược nhau. Hiện nay chị T và anh T1 đang sinh sống tại Cộng hòa liên bang Đ, nhưng ly thân và đã chấm dứt mọi quan hệ vợ chồng. Xét thấy tình trạng tình cảm vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn T1 đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp chận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn T1.
[2.2] Về con chung: chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn T1 có 02 con chung là Nguyễn Văn Anh K1, sinh ngày 25 tháng 02 năm 2019 và Nguyễn Văn Anh K2, sinh ngày 12 tháng 9 năm 2016. Cháu K1, cháu K2 hiện đang được ông H, bà K (ông bà ngoại các cháu) chăm sóc nuôi dưỡng. Hai cháu có nguyện vọng được ở với chị T.
Xét thấy: hiện tại không xác định được anh T1 đang ở đâu, làm gì tại nước ngoài, nên không thể giao con chung cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Từ tháng 5/2023 đến nay các con của chị T, anh T1 do ông H, bà K chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T có nguyện vọng được nuôi các con chung, nhưng nhờ ông bà ngoại các cháu là ông H, bà K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng khi chị còn ở nước ngoài và được ông H, bà K nhất trí. Do đó, cần giao hai con chung của chị T, anh T1 cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông H, bà K có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K1, cháu K2 trong thời gian chị T ở nước ngoài theo quy định tại Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình. Anh T1 có thể khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung khi có điều kiện.
Về cấp dưỡng: chị Nguyễn Thị T không yêu cầu; anh Nguyễn Văn T1 chưa có ý kiến nên miễn xét; ông H, bà K không có ý kiến về cấp dưỡng nuôi cháu K1, cháu K2 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không được ai cản trở.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị T không yêu cầu và anh T1 chưa có ý kiến, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[3] Về án phí sơ thẩm: chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều: 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 104 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm b khoản 2 Điều 207; Điều 147; điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố dụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án, xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.
- Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn T1.
- Về con chung:
- Giao con chung là Nguyễn Văn Anh K1, sinh ngày 25 tháng 02 năm 2019 và Nguyễn Văn Anh K2, sinh ngày 12 tháng 9 năm 2016 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ tháng 05/2024 đến khi các con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Ông Nguyễn Đình H, bà Nguyễn Thị K chịu trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K1, cháu K2 trong thời gian chị T ở nước ngoài.
- Về cấp dưỡng: chị Nguyễn Thị T không yêu cầu; anh Nguyễn Văn T1 chưa có ý kiến nên miễn xét; ông H, bà K không có ý kiến về cấp dưỡng nuôi cháu K1, cháu K2 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai số 0001277 ngày 31/10/2023.
- Về quyền kháng cáo:
- Chị Nguyễn Thị T, anh Nguyễn Văn T1 đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt, có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc Bản án sơ thẩm được niêm yết hợp lệ.
- Ông Nguyễn Đình H và bà Nguyễn Thị K vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày Bản án sơ thẩm được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Ngọc Tiếp |
Bản án số 147/2024/HNGĐ-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 147/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
