Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 147/2024/HS-ST

Ngày 04-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Sơn Tây.

Ông Nguyễn Thanh Cần.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nhâm Hoàng Long - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 27 tháng 6 và ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 và các Quyết định hoãn phiên tòa: số 05/2024/HSST-QĐ ngày 28/3/2024, số 08/2024/HSST-QĐ ngày 26/4/2024, số 12/2024/HSST-QĐ ngày 22/5/2024, số 40/2024/HSST-QĐ ngày 12/6/2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn L, sinh năm 2002 tại tỉnh An Giang; nơi cư trú: khu phố H, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Huỳnh Thị Cẩm T; tiền án: không; tiền sự: không; ngày 06/02/2023 bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn L: bà Phạm Đỗ Thùy L1, là Luật sư của Văn phòng Luật sư Thái Thanh H thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; địa chỉ: tổ A, khu phố C, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

2. Nguyễn Trọng N, sinh năm 2002 tại tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thái H1 và bà Phạm Thị Giang H2; tiền án: không;

Tiền sự: ngày 05/9/2021, Công an huyện D, tỉnh Trà Vinh xử phạt hành chính với số tiền 8.500.000 đồng về hành vi đua xe mô tô trái phép, không có giấy phép lái xe theo Quyết định số 409/QĐ-XPHC, chưa đóng tiền phạt (bút lục 310, 311).

Nhân thân:

  • Ngày 17/02/2018, Công an huyện D, tỉnh Trà Vinh xử phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 80/QĐ-XPVPHC (bút lục 307);
  • Ngày 11/6/2018, Công an thị xã D, tỉnh Trà Vinh phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 32/QĐ-XPVPHC (bút lục 309);
  • Ngày 17/3/2020, Công an phường K, thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương phạt 375.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 37/QĐ-XPHC, đóng tiền phạt vào ngày 16/4/2020;
  • Ngày 03/7/2020, Ủy ban nhân dân phường K, thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương phạt 2.500.000 đồng về hành vi tàng trữ hung khí (dao tự chế) nhằm mục đích gây thương tích cho người khác theo Quyết định số 681/QĐ-XPHC, đóng tiền phạt vào ngày 03/9/2020;
  • Ngày 30/10/2023, Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 257/2023/HS-ST.

Ngày 14/4/2023, bị bắt, tạm giam trong vụ án khác; đang chấp hành án tại Trại giam C1; có mặt.

3. Dương Trọng H3, sinh năm 2003 tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: ấp A, xã K, huyện U, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Hoàng A và bà Lê Thị H4; tiền án: không; tiền sự: không; ngày 06/10/2023 bị bắt, tạm giam cho đến nay; có mặt.

4. Phan Huỳnh Hồng P, sinh năm 2001 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn T1 và bà Huỳnh Thị Ngọc K; tiền án: không;

Tiền sự: ngày 10/10/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 16 tháng theo Quyết định số 57/2019/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 30/12/2020.

Ngày 05/10/2023 bị bắt, tạm giam cho đến nay; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Phan Huỳnh Hồng P: bà Bùi Thị H5, là Luật sư của Công ty TNHH Một thành viên T6 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ; địa chỉ liên hệ: số C, tổ A, khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

5. Phạm Trung B, sinh năm 1997 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ và bà Nguyễn Thị B1; tiền án: không; tiền sự: không; ngày 05/10/2023 bị bắt, tạm giam cho đến nay; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Trung B: ông Nguyễn Chánh T2, là Luật sư của Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; địa chỉ: khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

6. Nguyễn Trọng P1, sinh năm 2004 tại tỉnh Trà Vinh; nơi thường trú: ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nơi tạm trú: khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L2 và bà Nguyễn Thị T3; tiền án: không; tiền sự: không; ngày 05/10/2023 bị bắt, tạm giam cho đến nay; có mặt.

7. Nguyễn Trọng N1, sinh năm 1998 tại tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thái H1 và bà Phạm Thị Giang H2; tiền án: không;

Tiền sự: ngày 27/3/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 01/QĐ-TA; chấp hành xong ngày 14/7/2021.

Ngày 09/11/2023 bị bắt truy nã và bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: ông Wang Y, sinh năm 1982; địa chỉ: Công ty TNHH B4, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; có mặt.

Người phiên dịch cho bị hại: ông Bùi Đức A1, sinh năm 1977 – Cộng tác viên của Trung tâm D, Sở Ngoại vụ tỉnh B; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Tạ Văn V, sinh năm 1982; địa chỉ: Quán ăn "Lẩu B", khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin vắng mặt.
  2. Bà Phạm Thị Thanh H6, sinh năm 1991; địa chỉ: khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
  3. Ông Phan Văn T1, sinh năm 1970; địa chỉ: Khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
  4. Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1969; địa chỉ: khu phố B, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.
  5. Ông Nguyễn Thái H1, sinh năm 1978; địa chỉ: ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh; có mặt.
  6. Bà Huỳnh Thị Cẩm T, sinh năm 1973; địa chỉ: khu phố H, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang; có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Bà Lưu Thị Yến N2; vắng mặt.
  2. Bà Cao Thị Thanh H7; vắng mặt.
  3. Ông Trần Ngọc T4; vắng mặt.
  4. Bà Võ Thanh T5; vắng mặt.
  5. Bà Phạm Thị Quỳnh N3; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn L, Nguyễn Trọng N, Nguyễn Trọng N1, Nguyễn Trọng P1, Phạm Trung B, Phan Huỳnh Hồng P (tên gọi khác: Bi B2) và Dương Trọng H3 là bạn bè quen biết nhau.

Khoảng 19 giờ ngày 27/4/2022, L cùng với N, N1, P1, B, P, H3 và Phạm Thị Quỳnh N3 (bạn gái L), Nguyễn Thị Mỹ A2 (em gái L), 01 người nữ (bạn của A2) dự tiệc sinh nhật của L tại quán ăn “Lẩu Bò Minh C” thuộc khu phố L, phường K, thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương do ông Tạ Văn V làm chủ. Khoảng 21 giờ 30 cùng ngày, ông W YanXin cùng em trai là Wang Wen Y1 (quốc tịch Trung Quốc), Lưu Thị Yến N2 và Cao Thị Thanh H7 đến đây để ăn tối. Bàn của nhóm ông W YanXin ngồi cách bàn của nhóm L khoảng 03m, quá trình ăn N ngồi tại bàn mời nhóm ông W YanXin uống bia nhưng nhóm của ông W YanXin từ chối không uống. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, nhóm ông W YanXin ăn xong và ra lấy xe để đi về. Lúc điều khiển xe, ông W YanXin và ông Wang Wen Y1 vô ý để đèn xe mô tô chiếu vào bàn của nhóm L nên N và H3 nhắc nhở ông W YanXin và ông Wang Wen Y1 tắt đèn xe nhưng hai ông vẫn không tắt đèn. Khi ông W YanXin nổ máy, nháy đèn pha thì N, L, H3, N1 lấy chai bia, ly thủy tinh ở trên bàn ném về phía ông W YanXin trúng 01 cái vào mũ bảo hiểm. Lúc này, ông Wang Y2 cầm mũ bảo hiểm trên tay đi lại bàn của nhóm L, chỉ tay về cả nhóm và nói tiếng Trung Quốc nhưng nhóm của L không hiểu. H3 liền cầm ghế nhựa bằng hai tay lao vào đánh ông W YanXin 02 cái vào người, L và N cầm chai bia thủy tinh (chai bia S đỏ) đánh vào vùng đầu ông W YanXin làm vỡ chai bia, P (B) dùng tay đánh nhiều cái vào người, đầu của ông W YanXin; N1 dùng tay xông vào đánh nhiều cái vào vùng đầu, vai; P1 và B cũng xông vào dùng tay chân đánh nhiều cái vào vùng đầu, vai của ông W YanXin. Khi thấy ông W YanXin chảy máu ở đầu thì nhóm của L không đánh nữa và định lên xe bỏ đi thì ông W YanXin nắm giữ xe Sirius (không rõ biển số) mà N1 định điều khiển chạy đi, thấy vậy N xông đến lấy 01 vỏ chai bia thủy tinh đánh 01 cái trúng phần đầu ông W YanXin làm vỡ chai bia, L cầm ly thủy tinh trên bàn đánh 01 cái vào sau đầu ông W YanXin làm ly vỡ, H3 cũng xông vào đánh nhiều cái bằng tay vào vùng cổ, mặt của ông Wang Y2, do bị đánh nên ông W YanXin không giữ xe của N1 nữa. Sau đó, cả nhóm của L lên xe bỏ đi còn ông W YanXin được đưa đến Bệnh viện C2 để điều trị vết thương và sự việc được trình báo đến Công an phường K. Công an phường K lập hồ sơ ban đầu và chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thụ lý theo thẩm quyền.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 0656 ngày 21/6/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận ông Wang Y có các thương tích:

  • 02 sẹo vùng chẩm phải kích thước 08x0,3cm và 02x0,4cm;
  • Sẹo đỉnh đầu kích thước 3,5x0,4cm;
  • Sẹo vành tai trái đến sau tai trái tổng kích thước 04x0,3cm trong đó vành tai trái kích thước 01x0,3cm; không co rúm và sẹo nằm sau tai trái (vùng chẩm) kích thước 03x0,3cm;
  • 03 vết thương thái dương trái để lại 03 sẹo: sẹo thái dương trái kích thước 01x0,2cm; sẹo đầu ngoài cung mày trái kích thước 02x0,3cm; sẹo không liên tục vùng trán trái kích thước 3,9x0,2cm;
  • Sẹo trán trái phía trong đầu trên cùng mày trái hình chân chim kích thước 02x0,3cm;
  • Sẹo gò má trái kích thước 0,6x0,3cm;
  • 02 sẹo khuỷu tay trái kích thước 02x0,3cm và 2,5x0,2cm;
  • Gãy xương sườn 4-5 bên trái.

Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của ông Wang Y là 25% (hai mươi lăm phần trăm).

Vật gây thương tích: chấn thương mắt trái và ngực là do vật tày; thương tích đầu mặt và tay trái là do vật sắc hoặc vật tày có cạnh.

Về trách nhiệm dân sự: ông Wang Y yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường tổng số tiền 300.000.000 đồng (trong đó chi phí điều trị thương tích là 30.000.000 đồng; chi phí điều trị thẩm mỹ là 170.000.000 đồng; thu nhập bị mất trong thời gian điều trị thương tích là 50.000.000 đồng; bồi thường tổn thất tinh thần là 50.000.000 đồng). Ông Phan Văn T1 là cha của bị cáo Phan Huỳnh Hồng P đã nộp 25.000.000 đồng, bà Phạm Thị Thanh H6 là chị của bị cáo Phạm Trung B đã nộp 10.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị T3 là mẹ của bị cáo Nguyễn Trọng P1 đã nộp số tiền 5.000.000 đồng, bà Huỳnh Thị Cẩm T là mẹ của bị cáo Nguyễn Văn L đã nộp số tiền 5.000.000 đồng, ông Nguyễn Thái H1 là cha của các bị cáo Nguyễn Trọng N1 và Nguyễn Trọng N đã nộp 10.000.000 đồng vào Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương để khắc phục hậu quả thay cho các bị cáo.

Tại Cáo trạng số 49/CT-VKS.TU ngày 29 tháng 01 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo: Nguyễn Văn L, Nguyễn Trọng N, Dương Trọng H3, Phan Huỳnh Hồng P, Nguyễn Trọng N1 và Phạm Trung B về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; Nguyễn Trọng P1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 và Chương XII của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội trong đó có nội dung: giữ nguyên quyết định cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo; đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Về hình phạt: đề nghị xử phạt các bị cáo:

  • Nguyễn Văn L từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
  • Nguyễn Trọng N từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
  • Dương Trọng H3 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
  • Phan Huỳnh Hồng P từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
  • Nguyễn Trọng Nhân từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
  • Phạm Trung B từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm.
  • Nguyễn Trọng P1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm.

Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa, bị hại chỉ yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường tổng số tiền 130.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường chi phí điều trị thẩm mỹ 170.000.000 đồng và các bị cáo đồng ý bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Luật sư Phạm Đỗ Thùy L1 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn L trình bày ý kiến: thống nhất tội danh và khung hình phạt đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Văn L. Riêng mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo L là cao, nghiêm khắc. Bị cáo L có nhân thân tốt, sinh ra trong gia đình khó khăn, cha mẹ ly hôn nên không nhận được sự chăm sóc đầy đủ từ cha mẹ, trình độ học vấn thấp nên nhận thức về pháp luật có phần hạn chế; bị hại cũng có một phần lỗi; hành vi của bị cáo dùng ly thủy tinh đánh vào vùng đầu của bị hại gây tỷ lệ tổn thương cơ thể không cao; bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do vậy đề nghị áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xét xử bị cáo L dưới khung hình phạt và phân hóa trách nhiệm bồi thường dân sự cho phù hợp với hành vi của từng bị cáo.

Luật sư Bùi Thị H5 bào chữa cho bị cáo Phan Huỳnh Hồng P trình bày ý kiến: thống nhất tội danh, khung hình phạt đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo Phan Huỳnh Hồng P. Tuy nhiên, luận tội chưa cá thể hóa hình phạt cũng như trách nhiệm bồi thường dân sự của từng bị cáo. Bị cáo P chỉ dùng tay đánh bị hại nên gây thương tích không cao. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo chấp hành cai nghiện tốt nên được giảm thời gian cai nghiện. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo hoặc xử bị cáo mức án thấp nhất của khung hình phạt và buộc bị cáo bồi thường cho bị hại tương xứng với hành vi bị cáo thực hiện.

Luật sư Nguyễn Chánh T2 bào chữa cho bị cáo Phạm Trung B trình bày ý kiến: thống nhất tội danh, khung hình phạt đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo Phạm Trung B. Tuy nhiên, mức hình phạt đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là quá nghiêm khắc, chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng. Hành vi của bị cáo là bộc phát, hưởng ứng theo các bị cáo khác. Bị cáo chỉ dùng tay đánh bị hại nên gây thương tích không cao thể hiện tại kết luận giám định, thương tích của bị hại chủ yếu do vật sắc nhọn, vật tày có cạnh gây ra. Bị cáo có nhân thân tốt, trình độ học vấn thấp nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử bị cáo mức hình phạt bằng thời hạn tạm giam. Trường hợp xử bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo thì đề nghị xử mức hình phạt thấp hơn đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát; đồng thời đề nghị phân hóa trách nhiệm bồi thường dân sự cho phù hợp với hành vi của từng bị cáo và trả lại chứng minh nhân dân cho bị cáo.

Bị hại Wang Y trình bày ý kiến: tại phiên tòa hôm nay, bị hại chỉ yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 130.000.000 đồng; riêng số tiền điều trị thẩm mỹ 170.000.000 đồng thì bị hại không yêu cầu bồi thường, khi nào có nhu cầu sẽ khởi kiện thành vụ án dân sự.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Phạm Thị Thanh H6 trình bày ý kiến: bà H6 là chị ruột của bị cáo B. Trong thời gian bà H6 vào trại tạm giam thăm bị cáo B thì bị cáo có nhờ bà bồi thường thiệt hại cho bị hại. Vì vậy, bà đã nộp số tiền 10.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên để khắc phục hậu quả thay cho bị cáo B. Bà H6 không yêu cầu bị cáo B trả lại số tiền nêu trên cho bà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Phan Văn T1 trình bày ý kiến: ông T1 là cha của bị cáo Phan Huỳnh Hồng P. Trong thời gian gia đình ông T1 vào trại tạm giam thăm bị cáo P thì bị cáo có nhờ gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại. Vì vậy, ông T1 đã nộp số tiền 25.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên để khắc phục hậu quả thay cho bị cáo P. Ông T1 không yêu cầu bị cáo P trả lại số tiền nêu trên cho ông.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Thái H1 trình bày ý kiến: ông H1 là cha của các bị cáo Nguyễn Trọng N và Nguyễn Trọng N1. Trong thời gian gia đình ông H1 vào trại tạm giam thăm các bị cáo N và N1 thì các bị cáo có nhờ gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại. Vì vậy ông H1 đã nộp số tiền 10.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên để khắc phục hậu quả thay cho bị cáo N và bị cáo N1, mỗi bị cáo 5.000.000 đồng. Ông H1 không yêu cầu các bị cáo N và N1 trả lại số tiền nêu trên cho ông.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Huỳnh Thị Cẩm T trình bày ý kiến: bà T là mẹ của bị cáo Nguyễn Văn L. Trong thời gian gia đình bà T vào trại tạm giam thăm bị cáo L thì bị cáo có nhờ gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại. Vì vậy bà T đã nộp số tiền 5.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên để khắc phục hậu quả thay cho bị cáo L. Bà T không yêu cầu bị cáo L trả lại số tiền nêu trên cho bà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị T3 trình bày ý kiến: bà T3 là mẹ của bị cáo Nguyễn Trọng P1. Trong thời gian gia đình bà T3 vào trại tạm giam thăm bị cáo P1 thì bị cáo có nhờ gia đình bà bồi thường thiệt hại cho bị hại. Vì vậy bà T3 đã nộp số tiền 5.000.000 đồng vào Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên để khắc phục hậu quả thay cho bị cáo P1. Bà T3 không yêu cầu bị cáo P1 trả lại số tiền nêu trên cho bà.

Đại diện Viện Kiểm sát tranh luận, đối đáp: bị cáo L thực hiện hành vi tích cực, 02 lần dùng hung khí nguy hiểm đánh vào vùng đầu của bị hại nên có vai trò cao hơn; do đó mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo L phải cao hơn các bị cáo khác. Bị cáo P tuy chỉ đánh bị hại bằng tay, chân nhưng do bị cáo có 01 tiền sự nên không đủ điều kiện được hưởng án treo. Người bào chữa cho bị cáo B đề nghị xử bị cáo B bằng thời hạn tạm giam là chưa phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo; do trong hồ sơ không có biên bản thu giữ chứng minh nhân dân của bị cáo B nên gia đình bị cáo liên hệ với người thu giữ để nhận lại. Từ những phân tích nêu trên, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm luận tội.

Các bị cáo nói lời sau cùng: các bị cáo xin lỗi bị hại, các bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Tạ Văn V có đơn xin vắng mặt; người làm chứng là bà Lưu Thị Yến N2, bà Cao Thị Thanh H7, ông Trần Ngọc T4, bà Võ Thanh T5, bà Phạm Thị Quỳnh N3 vắng mặt. Quá trình điều tra những người nêu trên đã có lời khai đầy đủ, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ vào các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[1.3] Đối với ông Wang Wen Y1: theo Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể do Công an phường K lập ngày 29/4/2022 thể hiện ông Wang Wen Y1 có các thương tích sau: tại vị trí cánh tay phải có 01 vết xây xát da kích thước 5x0,2cm; tại vị trí long bàn tay trái có 01 vết thương xây xát da kích thước 5x,5cm; 01 vết thương vùng khủy tay trái kích thước 3x0,2cm xây xát da. Việc giám định thương tích của ông Wang Wen Y1 là căn cứ để xác định tình tiết định khung tăng nặng đối với các bị cáo theo quy định tại Điều 205 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, do ông Wang Wen Y1 chỉ bị thương tích nhẹ, xây xát ngoài da nên đã từ chối giám định và ông Wang Wen Y1 đã xuất cảnh vào ngày 16/11/2023 (theo Công văn số 72/PA08 ngày 15/01/2024 của Phòng Q – Công an tỉnh B) nên việc giám định thương tích đối với ông Wang Wen Y1 là không thực hiện được.

[1.4] Xác định độ tuổi của bị cáo Nguyễn Trọng P1:

Theo Giấy khai sinh của bị cáo P1 thể hiện bị cáo P1 sinh ngày 13 tháng 7 năm 2004 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh C2 nhưng đăng ký khai sinh vào ngày 12/8/2005 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh là khai sinh trễ hạn. Qua xác minh, Bệnh viện Đa khoa tỉnh C2 không còn lưu trữ hồ sơ, sổ sách thể hiện thời gian sinh của bị cáo P1 và Ủy ban nhân dân xã H không còn lưu trữ giấy chứng sinh của bị cáo P1 (bút lục 478).

Tuy nhiên, căn cứ vào chứng minh nhân dân của bị cáo P1, sổ hộ khẩu của ông Nguyễn Văn B3, lời khai của bà Nguyễn Thị T3 là mẹ ruột của bị cáo P1 tại bút lục số 210 đều thể hiện bị cáo P1 sinh ngày 13 tháng 7 năm 2004. Các tài liệu, chứng cứ nêu trên không có sự mâu thuẫn nên không cần thiết thực hiện giám định độ tuổi theo quy định tại Điều 417 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ C3, Bộ Tư pháp, Bộ L4. Do vậy, đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Trọng P1 sinh vào ngày 13 tháng 7 năm 2004 và tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 27 tháng 4 năm 2022 thì bị cáo P1 có độ tuổi là 17 tuổi 09 tháng 14 ngày.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử áp dụng các quy định tại Chương XII về “Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội” của Bộ luật Hình sự để xét xử đối với bị cáo P1.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Trọng N, Dương Trọng H3, Phan Huỳnh Hồng P và Nguyễn Trọng N1 thừa nhận chính các bị cáo cùng với Phạm Trung B và Nguyễn Trọng P1 là người đánh gây ra thương tích cho bị hại Wang Y.

Các bị cáo Phạm Trung B và Nguyễn Trọng P1, quá trình điều tra không nhận tội nhưng tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận có thực hiện hành vi đánh gây thương tích cho bị hại Wang Y. Lời khai nhận của các bị cáo B và P1 tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo N, H3, N1, L (bút lục 70, 92, 93, 94, 97, 112, 127, 116, 118, 119, 149, 209, 418, 429, 430) và lời khai của ông Tạ Văn V cùng những làm chứng (bút lục 132, 137, 138, 213); phù hợp với bản ảnh thực nghiệm điều tra, biên bản nhận dạng, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 22/6/2022, tại quán ăn “Lẩu Bò Minh C” thuộc khu phố L, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Văn L có hành vi cầm chai bia thủy tinh và ly thủy tinh đánh 02 cái vào vùng đầu của ông W YanXin; Nguyễn Trọng N cầm chai bia và vỏ chai bia thủy tinh đánh 02 cái vào vùng đầu của ông Wang Y2; Dương Trọng H3 cầm ghế nhựa đánh 02 cái và dùng tay đánh nhiều cái vào người của ông W YanXin; Phan Huỳnh Hồng P (B) dùng tay đánh nhiều cái vào người và đầu của ông W YanXin; Nguyễn Trọng N1 dùng tay đánh nhiều cái vào vùng đầu và vai của ông Wang Y2; Phạm Trung B và Nguyễn Trọng P1 dùng tay, chân đánh nhiều cái vào vùng đầu, vai của ông W YanXin gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 25%.

Nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của các bị cáo là xuất phát từ hành vi của bị hại bật đèn xe mô tô chiếu sáng vào bàn ăn của nhóm các bị cáo mặc dù đã được các bị cáo nhắc nhở. Hành vi phạm tội của các bị cáo là bộc phát, nhất thời, không có mục đích đánh bị hại nên không chuẩn bị công cụ, phương tiện để thực hiện tội phạm. Bị cáo L và N tuy có dùng hung khí nguy hiểm là chai bia thủy tinh và ly bia thủy tinh đánh vào vùng đầu là vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại nhưng cường độ tấn công không liên tục thể hiện ở việc bị cáo L và N chỉ đánh bị hại 01 cái rồi đi về, do bị hại nắm xe mô tô của bị cáo N1 giằng co giữ lại nên các bị cáo mới dùng ly bia thủy tinh và chai bia thủy tinh đánh thêm 01 cái vào vùng đầu của bị hại rồi dừng lại, điều này cho thấy các bị cáo không có ý thức tước đoạt tính mạng của bị hại mặc dù có đủ điều kiện thực hiện; tốc độ tấn công không quyết liệt thể hiện ở thương tích của bị hại chỉ xảy ra ở phần mềm và mức độ nguy hiểm của thương tích không cao, khi vào nhập viện bị hại trong trạng thái tỉnh táo (theo giấy chứng nhận thương tích và kết luận giám định).

Hành vi nêu trên của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ và gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an nơi gây án. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc dùng ly bia, chai bia thủy tinh là hung khí nguy hiểm để tấn công bị hại sẽ gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của bị hại nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Do vậy, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[4] Về vai trò thực hiện hành vi phạm tội

Vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm, không có sự phân công vai trò, nhiệm vụ cụ thể.

Bị cáo L và N đánh bị hại bằng hung khí nguy hiểm, tấn công vào vùng trọng yếu nên mức độ nguy hiểm và tỷ lệ thương tích gây ra cao hơn. Do đó, phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc hơn so với các bị cáo khác.

Các bị cáo H3, P, N1, B, P1 đánh bị hại bằng ghế nhựa, tay, chân nên mức độ nguy hiểm và tỷ lệ thương tích gây ra thấp hơn.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Văn L, Phan Huỳnh Hồng P, Nguyễn Trọng N, Nguyễn Trọng N1 và Nguyễn Trọng P1 được hưởng tình tiết người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Dương Trọng H3 được hưởng tình tiết người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Phạm Trung B được hưởng tình tiết người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; có thành tích trong công tác (được Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường K tặng Giấy khen có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2019; hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp) và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về tiền sự:

Bị cáo Nguyễn Trọng N bị Công an huyện D, tỉnh Trà Vinh xử phạt hành chính số tiền 8.500.000 đồng về hành vi đua xe mô tô trái phép, không có giấy phép lái xe theo Quyết định số 409/QĐ-XPHC ngày 05/9/2021; chưa nộp tiền phạt.

Bị cáo Phan Huỳnh Hồng P bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 16 tháng theo Quyết định số 57/2019/QĐ-TA ngày 10/10/2019; chấp hành xong ngày 30/12/2020.

Bị cáo Nguyễn Trọng N1 bị Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 01/QĐ-TA ngày 27/3/2020; chấp hành xong ngày 14/7/2021.

[8] Về nhân thân: bị cáo Nguyễn Trọng N bị Công an huyện D, tỉnh Trà Vinh xử phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 80/QĐ-XPVPHC ngày 17/02/2018; bị Công an thị xã D, tỉnh Trà Vinh phạt cảnh cáo về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 32/QĐ-XPVPHC ngày 11/6/2018; bị Công an phường K, thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương phạt 375.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 37/QĐ-XPHC ngày 17/3/2020; bị Ủy ban nhân dân phường K, thị xã (nay là hành phố) Tân Uyên, tỉnh Bình Dương phạt 2.500.000 đồng về hành vi tàng trữ hung khí (dao tự chế) nhằm mục đích gây thương tích cho người khác theo Quyết định số 681/QĐ-XPHC ngày 03/7/2020; bị Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 257/2023/HS- ST ngày 30/10/2023. Điều đó cho thấy bị cáo không biết sửa đổi, khắc phục hành vi sai trái, vi phạm pháp luật của mình để làm người lương thiện, sống có ích cho xã hội mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Do đó, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân của bị cáo.

[9] Do bị cáo Nguyễn Trọng N bị tuyên phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 257/2023/HS-ST ngày 30/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

[10] Đối chiếu với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Trọng N, Dương Trọng H3, Nguyễn Trọng N1 và Nguyễn Trọng P1 là phù hợp. Riêng mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo Phạm Trung B và Phan Huỳnh Hồng P là chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo nên Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt khác cho phù hợp.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Phạm Trung B đề nghị xử bị cáo B mức hình phạt thấp hơn đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát và phân hóa trách nhiệm bồi thường dân sự đối với từng bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận. Ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Văn L và Phan Huỳnh Hồng P về đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với các bị L và P là chưa phù hợp nên không được chấp nhận; riêng đề nghị phân hóa trách nhiệm bồi thường dân sự đối với từng bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận.

Bị cáo L và N tấn công bị hại bằng hung khí nguy hiểm; bị cáo N có tiền sự và nhân thân xấu; các bị cáo H3, P, N1 tuy không dùng hung khí nguy hiểm tấn công bị hại nhưng bị cáo N1 có 01 tiền sự và sau khi phạm tội đã bỏ trốn, bị truy nã, gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố của Cơ quan tiến hành tố tụng; bị cáo P có 01 tiền sự; bị cáo H3 là người tấn công bị hại trước, tạo tiền đề cho các bị cáo khác thực hiện theo nên cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Riêng bị cáo B và P1 không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; có nhân thân tốt thể hiện ở việc chưa có tiền án, tiền sự; ngoài lần phạm tội này, các bị cáo luôn chấp hành tốt chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước; có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo B còn có thành tích trong công tác, bị cáo P1 thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi. Trường hợp của các bị cáo B và P1 đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/6/2018 và Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo B và P1 có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cần tạo điều kiện cho các bị cáo cải tạo, sửa chữa bản thân dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú; đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội lần đầu, biết ăn năn, hối cải, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong xử lý người phạm tội.

[11] Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, bị hại Wang Y yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường tổng số tiền 300.000.000 đồng; trong đó: chi phí điều trị thương tích là 30.000.000 đồng; thu nhập bị mất trong thời gian điều trị thương tích là 50.000.000 đồng; bồi thường tổn thất tinh thần là 50.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường chi phí điều trị thẩm mỹ 170.000.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với yêu cầu bồi thường chi phí điều trị thương tích 30.000.000 đồng: có hóa đơn chứng từ, phù hợp với với tính chất, mức độ của thiệt hại; phù hợp với chi phí thực tế cần thiết, chi phí thuê phương tiện đưa bị hại đến cơ sở khám chữa bệnh và trở về nơi ở theo quy định tại khoản 1 Điều 591 của Bộ luật Dân sự và điểm a khoản 1 Điều 7 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên có căn cứ chấp nhận.

Đối với yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần 50.000.000 đồng: tại khoản 2 Điều 590 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần, mức bồi thường tổn thất tinh thần tối đa không quá 50 tháng lương cơ sở. Theo quy định tại Nghị định số 73/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 thì mức lương cơ sở là 2.340.000 đồng/tháng. Như vậy mức bồi thường tổn thất tinh thần không quá 117.000.000 đồng. Tỷ lệ thương tích của bị hại là cao 25%, thương tích xảy ra chủ yếu tại vùng đầu là vùng trọng yếu nên số tiền bù đắp tổn thất tinh thần các bị cáo phải bồi thường là 58.500.000 đồng. Tuy nhiên, bị hại chỉ yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 50.000.000 đồng là có lợi cho các bị cáo nên có căn cứ chấp nhận.

Đối với yêu cầu bồi thường thu nhập bị mất trong thời gian điều trị thương tích 50.000.000 đồng: bị hại cung cấp bảng lương thể hiện thu nhập bình quân 03 tháng liền kề trước khi bị thương tích là 50.000.000 đồng nên có căn cứ chấp nhận.

Như vậy, tổng số tiền các bị cáo phải bồi thường cho bị hại là 130.000.000 đồng. Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Tuy nhiên, cần xác định trách nhiệm bồi thường của từng bị cáo tương xứng với hành vi, mức độ lỗi của mỗi bị cáo gây ra.

Bị cáo Nguyễn Văn L và Nguyễn Trọng N dùng hung khí nguy hiểm đánh vào vùng đầu của bị hại gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể cao nên phải chịu trách nhiệm bồi thường cho bị hại với mức bồi thường cao nhất, mỗi bị cáo là 30.000.000 đồng. Các bị cáo Phạm Trung B, Dương Trọng H3, Nguyễn Trọng N1, Phan Huỳnh Hồng P và Nguyễn Trọng P1 đánh bị hại bằng ghế nhựa và tay, chân nên phải chịu trách nhiệm bồi thường cho bị hại với mức độ lỗi bằng nhau, mỗi bị cáo là 14.000.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 584; các Điều 587 và 590 của Bộ luật Dân sự.

Ông Phan Văn T1 là cha của bị cáo Phan Huỳnh Hồng P đã nộp 25.000.000 đồng, bà Phạm Thị Thanh H6 là chị ruột của bị cáo Phạm Trung B đã nộp 10.000.000 đồng, bà Huỳnh Thị Cẩm T là mẹ của bị cáo Nguyễn Văn L đã nộp 5.000.000 đồng, ông Nguyễn Thái H1 là cha của các bị cáo Nguyễn Trọng N1 và Nguyễn Trọng N đã nộp 10.000.000 đồng vào Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên để bồi thường thiệt hại thay cho các bị cáo nên các bị cáo P, B, L, N, N1 và P1 sẽ được trừ vào số tiền nêu trên.

[12] Đối với hành vi đập phá ly thủy tinh, vỏ chai bia, chén, ghế nhựa của các bị cáo tại quán lẩu bò Minh C. Ngày 08/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành định giá các tài sản bị thiệt hại, tuy nhiên do các tài sản không thu hồi được, không rõ nhãn hiệu, không có hóa đơn chứng từ và hình ảnh cụ thể nên Hội đồng định giá không có cơ sở để định giá. Ông Tạ Văn V xác định tài sản bị thiệt hại là 629.000 đồng và không yêu cầu các bị cáo bồi thường. Do đó, không đủ căn cứ xem xét xử lý hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản đối với các bị cáo.

[13] Hành vi của các bị cáo dùng hung khí là chai bia, ly bia, ghế nhựa, tay, chân đánh bị hại gây thương tích đã thu hút vào tội “Cố ý gây thương tích”. Các bị cáo chỉ đánh bị hại trong quán lẩu bò Minh C; không có hành vi đập phá trong quán cũng như đập phá các công trình ở nơi công cộng; tại thời điểm đánh nhau trong quán không có nhiều người (chỉ có bàn của bị cáo, bị hại và 02 người khách khác) và ngoài đường có ít người qua lại. Do vậy, hành vi đánh nhau của các bị cáo không gây cản trở giao thông nghiêm trọng, không gây đình trệ hoạt động công cộng nên không đủ căn cứ xem xét xử lý hành vi gây rối trật tự công cộng đối với các bị cáo.

[14] Về án phí sơ thẩm: các bị cáo phạm tội, bị kết án và phải bồi thường cho bị hại nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Trọng N, Dương Trọng H3, Phan Huỳnh Hồng P, Nguyễn Trọng N1, Phạm Trung B và Nguyễn Trọng P1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1. Về trách nhiệm hình sự:

1.1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/02/2023.

1.2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 56 và 58 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 257/2023/HS-ST ngày 30/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; buộc bị cáo Nguyễn Trọng N phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/4/2023.

1.3. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Dương Trọng H3 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/10/2023.

1.4. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng N1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/11/2023.

1.5. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Phan Huỳnh Hồng P 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/10/2023.

1.6. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Phạm Trung B 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án (ngày 04/7/2024).

Giao bị cáo Phạm Trung B cho Ủy ban nhân dân phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo.

1.7. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 và 91; khoản 2 Điều 101 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng P1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 04/7/2024).

Giao bị cáo Nguyễn Trọng P1 cho Ủy ban nhân dân phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 586, 587 và 590 của Bộ luật Dân sự:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn L có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Wang Yanxin số tiền 30.000.000 đồng, được trừ vào số tiền khắc phục hậu quả 5.000.000 đồng do bà Huỳnh Thị Cẩm T nộp theo Biên lai thu tiền số 0001613 ngày 02/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Bị cáo Nguyễn Văn L phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Wang Yanxin số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

Buộc bị cáo Nguyễn Trọng N có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Wang Yanxin số tiền 30.000.000 đồng, được trừ vào số tiền khắc phục hậu quả 5.000.000 đồng do ông Nguyễn Thái H1 nộp theo Biên lai thu tiền số 0001614 ngày 02/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Bị cáo Nguyễn Trọng N phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Wang Yanxin số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng).

Buộc bị cáo Nguyễn Trọng N1 có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Wang Yanxin số tiền 14.000.000 đồng, được trừ vào số tiền khắc phục hậu quả 5.000.000 đồng do ông Nguyễn Thái H1 nộp theo Biên lai thu tiền số 0001614 ngày 02/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Bị cáo Nguyễn Trọng N1 phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Wang Yanxin số tiền 9.000.000 đồng (chín triệu đồng).

Buộc bị cáo Phạm Trung B có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Wang Yanxin số tiền 14.000.000 đồng, được trừ vào số tiền khắc phục hậu quả 10.000.000 đồng do bà Phạm Thị Thanh H6 nộp theo Biên lai thu tiền số 0001478 ngày 06/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Bị cáo Phạm Trung B phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Wang Yanxin số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).

Buộc bị cáo Phan Huỳnh Hồng P có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Wang Yanxin số tiền 14.000.000 đồng, được trừ vào số tiền khắc phục hậu quả 25.000.000 đồng do bà Bùi Thị H5 nộp thay cho ông Phan Văn T1 theo Biên lai thu tiền số 0001458 ngày 15/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Trả lại cho ông Phan Văn T1 số tiền 11.000.000 đồng.

Buộc bị cáo Nguyễn Trọng P1 có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Wang Yanxin số tiền 14.000.000 đồng, được trừ vào số tiền khắc phục hậu quả 5.000.000 đồng do bà Nguyễn Thị T3 nộp theo Biên lai thu tiền số 0001603 ngày 27/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Bị cáo Nguyễn Trọng P1 phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Wang Yanxin số tiền 9.000.000 đồng (chín triệu đồng).

Buộc bị cáo Dương Trọng H3 có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Wang Yanxin số tiền 14.000.000 đồng (mười bốn triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

3. Về án phí sơ thẩm:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

3.1. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Các bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Trọng N, Phạm Trung B, Dương Trọng H3, Nguyễn Trọng N1, Phan Huỳnh Hồng P và Nguyễn Trọng P1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3.2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng).

Bị cáo Nguyễn Trọng N phải chịu số tiền 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng).

Các bị cáo Phạm Trung B, Dương Trọng H3, Nguyễn Trọng N1, Phan Huỳnh Hồng P và Nguyễn Trọng P1, mỗi bị cáo phải chịu số tiền 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng).

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - PV06 - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - Công an thành phố Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên;
  • - Người tham gia tố tụng (17);
  • - UBND phường Khánh Bình, TP Tân Uyên, tỉnh Bình Dương;
  • - Lưu: Văn thư, hồ sơ, 27.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 147/2024/HS-ST ngày 04/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 147/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger