|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 147/2024/HS-ST | |
| Ngày: 03 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Lê Như Toản
Ông Trần Xuân Giới
- Thư ký phiên toà tại điểm cầu trung tâm: Ông Vũ Đức Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; tại điểm cầu thành phần: Bà Nguyễn Minh T - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa tại Điểm cầu trung tâm: Ông Bùi Xuân H - Kiểm sát viên; tại Điểm cầu thành phần: Ông Trần Trung H1 - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm hội trường xét xử số 1 - Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và Đ cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 120/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Đoàn Văn D; sinh ngày 10 tháng 5 năm 1960, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ A, khu E, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn B và con bà Bùi Thị N (đã chết); V là Trần Thị T1, có 01 con;
- Tiền án:
- + Ngày 08/9/2011, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 28/01/2019 chấp hành xong hình phạt tù về địa phương.
2
- + Ngày 06/5/2020, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 17/4/2023 chấp hành xong hình phạt tù về địa phương.
- Nhân thân:
- + Ngày 23/4/2001, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 07 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 13/8/2004 được đặc xá về địa phương, đã thi hành xong phần án phí của bản án.
- + Ngày 27/10/2005, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 42 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 19/01/2009 chấp hành xong hình phạt tù về địa phương, đã thi hành xong án phí của bản án.
- Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 28/02/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Đỗ Văn H2, ông Lại Hữu T2, đều vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 10 phút, ngày 28/02/2024 tại đoạn đường thuộc tổ B, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố H phối hợp với công an phường H phát hiện bắt quả tang Đoàn Văn D có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mục đích để bán. T3 tại tay trái của D 03 gói giấy, gồm 02 gói giấy bạc, 01 gói giấy màu trắng; thu trong túi áo khoác trong bên trái của D đang mặc có 01 túi nilon, bên trong có 10 gói giấy, gồm 06 gói giấy bạc, 04 gói giấy màu trắng, bên trong mỗi gói giấy đều chứa chất bột màu trắng; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Masstel màu đen và 3.350.000 đồng.
Tại bản Kết luận giám định số 307/KL- KTHS ngày 05/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: 13 gói giấy chứa chất bột màu trắng thu của Đoàn Văn D gửi giám định là ma túy, loại Heroine, tổng khối lượng 1,343g (một phẩy ba bốn ba gam).
Tại cơ quan điều tra Đoàn Văn D khai: D nghiện ma tuý loại Heroine từ năm 2000. Sau khi chấp hành án phạt tù trở về địa phương vào tháng 4 năm 2023, D vẫn tiếp tục sử dụng ma tuý và nảy sinh ý định mua ma tuý heroine về bán kiếm lời. Khoảng 08 giờ, ngày 28/02/2024. D đến khu vực ga H thuộc phường G để tìm mua ma túy. Tại đây D gặp một người đàn ông không quen biết và nhờ mua hộ 1.500.000 đồng ma túy Heroine. Người đàn ông đồng ý và cầm tiền, sau đó người đàn ông đưa cho D 01 túi nilon, bên trong có 13 gói ma túy và bỏ đi. Sau khi mua được ma túy D cầm 03 gói ma túy ở tay trái, cất giấu
3
10 gói vào túi áo khoác trong bên trái đang mặc. D có ý định bán toàn bộ số ma túy này với giá 200.000 đồng một gói. Khi D đi đến khu vực tổ B, khu A, phường H thì bị Công an thành phố H phát hiện bắt quả tang thu ma tuý, tiền và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastell của D.
Bản Cáo trạng số: 1488/CT-VKSHL ngày 27/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, đã truy tố bị cáo Đoàn Văn D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Những người chứng kiến anh Đỗ Viết T4 và ông Lại Hữu T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai thể hiện: được cơ quan Công an yêu cầu chứng kiến việc tiến hành kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ đối với Đoàn Văn D có hành vi tàng trữ 13 gói ma tuý, D khai là ma túy Heroine, D tàng trữ với mục đích để bán.
Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
+Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang 28/02/2024; Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo;
+Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 0,7 gam Heroine hoàn lại sau giám định; Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại nhãn hiệu Mastell, màu đen kèm 01 sim và số tiền 3.350.000 đồng là tiền riêng của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội.
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội; bị cáo không có quan điểm tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp
4
pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với: lời khai của người chứng kiến anh Đỗ Văn H2, ông Lại Hữu T2 là người chứng kiến Công an bắt quả tang bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 28/02/2024, Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa, do vậy Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để xác định: hồi 10 giờ 10 phút, ngày 28/02/2024, tại tổ B, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Công an thành phố H phối hợp với công an phường H bắt quả tang Đoàn Văn D có hành vi tàng trữ trái phép 1,343g (một phẩy ba bốn ba gam) Heroine, mục đích để bán.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự
Về tình tiết định khung: Ngày 08/9/2011, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt bị cáo 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 28/01/2019 chấp hành xong hình phạt tù; Ngày 06/5/2020, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 42 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 17/4/2023 chấp hành xong hình phạt tù. Lần phạm tội này bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng là tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội thì thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Ma túy là hiểm họa của toàn xã hội, hủy hoại sức khỏe con người. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy cũng như biết rõ H3 là chất cấm lưu hành nhưng vì vụ lợi đã bất chấp các quy định của pháp luật, tàng trữ ma túy để bán lại cho người khác kiếm lời. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án xét xử nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học để sửa chữa, tu dưỡng bản thân làm người công dân có ích cho xã hội lại tiếp tục thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, cho thấy sự quyết tâm phạm tội cao nên cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
5
Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp, không xác định được bị cáo có tài sản riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý tài sản, vật chứng vụ án: 0,7 gam Heroine hoàn lại sau giám định là chất do nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Mastell, màu đen kèm theo 01 sim và số tiền 3.350.000₫ (Bằng chữ: ba triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) là tiền cá nhân của bị cáo không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.
[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử thấy đề nghị này phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Đối tượng bán ma túy cho D không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở để xử lý.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo là người cao tuổi, tại phiên toà bị cáo đề nghị được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ vào Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên Hội đồng xét xử xem xét miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Đoàn Văn D 07 (bảy) năm, 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/02/2024.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,7 gam (không phẩy bảy gam) Heroine mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 307/KL - KTHS ngày 05/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q.
Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại nhãn hiệu Mastell, màu đen kèm theo 01 (một) sim điện thoại.
6
(Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng số 201/BB-THA ngày 30/5/2024 giữa Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long).
Trả lại cho bị cáo số tiền 3.350.000₫ (Bằng chữ: ba triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
(Theo phiếu nhập kho ngày 11/3/2024 tại Kho bạc Nhà nước Q; Nợ TK: 9911, người giao: Lê Ngọc V1 - Đơn vị: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố H; gói gửi mã số 1425 và Biên bản giao nhận tài sản số 45/2024/BBBG-CQCSĐT ngày 11/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H).
3. Về án phí: căn cứ vào Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Đoàn Văn D được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - Bị cáo. - Viện kiểm sát NDTP Hạ Long, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP Hạ Long; Cơ quan THAHS công an TP Hạ Long - Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh; TAND tỉnh Quảng Ninh; - Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; - Chi cục THADS TP Hạ Long; - Sở tư pháp - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu |
7
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Lê Như Toản – Trần Xuân Giới | Lê Thị Thu |
Bản án số 147/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 147/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đoàn Văn D
