|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 147/2025/HSST Ngày: 05/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hi
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Song Hn
- Bà Nguyễn Thị Mỹ H
Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị H - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 11, TP. Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Linh – Kiểm sát viên
Ngày 05 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 11, TP . xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 122/2025/HSST ngày 06 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2025/HSST- QĐXX ngày 14 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị L, sinh năm 1963, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: số 40 đường N, Phường A, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là 40 đường N, Phường P, TP .); quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; con ông Nguyễn Văn L1 (đã chết); con bà Lê Thị N (đã chết); có chồng là Phạm Thanh Đ, sinh năm 1960; có 02 con, lớn sinh năm 1987, nhỏ sinh năm 1989;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bắt từ ngày 13/6/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Khu vực P, Công an Thành phố H (có mặt).
Bị hại: Bà Phạm Thúy T, sinh năm 1960; địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là tổ A, ấp P, Phường T, TP .) (có mặt);
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Tạ Thị N1, sinh năm 1962; địa chỉ: Khu phố H, xã L, Thành phố T (vắng mặt),
- Bà Phạm Thụy Thanh T1, sinh năm 1989 và ông Phạm Thanh B, sinh năm 1987; cùng địa chỉ: D đường N, Phường P, TP . (đều có mặt);
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị L và Bà Phạm Thúy T, sinh năm 1960; địa chỉ: Tổ A, ấp P, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là tổ A, ấp P, Phường T, TP .) là hàng xóm cũ. Do biết bà T có nhu cầu mua đất, L tự giới thiệu L là chủ sở hữu, sử dụng thửa đất số 32, tờ bản đồ 118 tọa tại T xã A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã L, TP .) cần bán.
Hai bên thỏa thuận giá mua bán là 140.000.000 (một trăm bốn mươi triệu đồng). Ngày 26/6/2020, L và bà T lập hợp đồng đặt cọc để chuyển nhượng đất nêu trên, bà T đã giao cho L số tiền 90.000.000đ (chín mươi triệu đồng). Đến tháng 7/2020, do bà T thúc giục việc chuyển nhượng đất nên L dùng bản phô tô giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 465307 đã được chỉnh sửa, cắt dán thông tin (có tên Nguyễn Thị L là chủ sở hữu của thửa đất 35, tờ bản đồ số 118) đưa cho bà T để bà T tin và không hối thúc việc sang tên tên trên giây chứng nhận quyền sử dụng đất.
Khoảng đầu năm 2021, bà T phát hiện đất bị người khác rào lại nên hỏi thăm xung quanh và gặp bà Tạ Thị N1, sinh năm 1962, địa chỉ: Khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Kp Hải Đ1, xã L, Tp .) và biết được hiện các giấy tờ thửa đất trên đang do bà N1 giữ (do L cầm cố để vay tiền bà N1). Bà N1 đề nghị bà T đưa 50.000.000đ để bà N1 giao lại toàn bộ giấy tờ. Do vậy, bà T đa đưa cho bà N1 số tiền 50.000.000đ. Bà N1 đưa lại giấy tờ đất gồm:
Tờ di chúc, giấy cho tặng quyền sử dụng đất của bà Võ Thị T2, sinh năm 1930, thường trú tại; tịnh xá A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã L, TP .). Nội dung bà T2 là trụ trì tịnh xá An Lạc, tặng cho các ông bà: Vũ Văn T3, sinh năm 1981; địa chỉ: 3 đường B, Phường A, TP .; Phạm Thanh B, sinh năm 1987, Phạm Thanh H, sinh năm 1984, Phạm Thụy Thanh T1, sinh năm 1989; cùng thường trú tại: D N, Phường A, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đối với phần đất thuộc thửa đất số 19 ấp H, xã L, huyện L, tỉnh BR-VT (cũ);
Qua xác minh tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B thể hiện:
Thửa đất 35, tờ bản đồ 118 diện tích 1.522,7m² chưa có chủ sử dụng đất, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Thửa đất 32, tờ bản đồ 118 là một phần đất nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 465307 cấp ngày 08/6/2009 cho chủ sử dụng đất là Tịnh xá An Lạc.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, L thừa nhận bản thân không phải là chủ sử dụng, sở hữu bất cứ thửa đất nào liên quan đến Tịnh xá A tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (cũ) nhưng vì cần tiêu xài nên L đã viết giấy đặt cọc mua bán đất với bà T, sau nhiều lần bà T yêu cầu sang tên đất L tự cắt gián và phô tô tờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với thông tin giả mạo nêu trên.
Trách nhiệm dân sự:
3
Bị cáo L đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bà T, bà T không yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L.
Bà Phạm Thụy Thanh T1 và ông Phạm Thanh B (con của bị cáo L) thay mặt bị cáo bồi thường toàn bộ số tiền 140.000.000đ (gồm 90.000.000đ bị cáo L nhận từ bà T và 50.000.000đ bà T đưa cho bà N1 để chuộc giấy tờ). Bà T nhận tiền và không yêu cầu gì thêm. Bà T1, ông B không yêu cầu bị cáo L bồi hoàn lại số tiền này.
Về vật chứng: Quá trình tố giác tội phạm bà Phạm Thúy T giao nộp 01 bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 465307. Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 25/9/2025 và quá trình điều tra bổ sung: bà T nộp 01 bản gốc hợp đồng đặt cọc ngày 26/6/2020, 01 bản gốc giấy cam kết và 01 bản gốc đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Bà Phạm Thụy Thanh T1 cung cấp 01 bản gốc giấy biên nhận thanh toán tiền giữa bà T1, ông B và bà T, 01 tập tài liệu xác định bị cáo L là thân nhân đang thờ cúng liệt sỹ Nguyễn Thanh B1.
Bản cáo trạng số 01/CT-VKSKV11 ngày 29/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Thị L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là từ 04 đến 05 năm.
Về trách nhiệm dân sự đề nghị không xem xét.
Về vật chứng: Đề nghị xác định tất cả các tài liệu bị hại, người liên quan nộp nêu trên là chứng cứ và lưu theo hồ sơ vụ án.
Bị hại Phạm Thúy T không yêu cầu tòa án xem xét về trách nhiệm dân sự, đồng thời xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L.
Bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và Luận tội của Viện kiểm sát. Bị cáo ăn năn hối hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với bị cáo đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại
4
phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với việc vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Tạ Thị N1, bà N1 đã có lời khai rõ ràng trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt bà N1 không ảnh hưởng đến quá trình xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt bà N1.
[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo xác định đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng và luận tội mà Viện kiểm sát nêu. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của các bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra lại tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng tháng 6/2020 tại địa bàn Phường A, TP ., tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Phường P, TP.), do cần tiền tiêu xài, Nguyễn Thị L đã có hành vi đưa thông tin gian dối, cắt gián và phô tô tên mình vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người khác và nói với bà T về việc mình sở hữu thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 465307 tại Tịnh xá A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là xã L, TP .) để bán cho bà Phạm Thúy T với giá 140.000.000₫.
Bà T tin tưởng nên đã mua thửa đất nêu trên của L và giao cho L số tiền 90.000.000đ đồng thời đưa cho bà Tạ Thị N1 số tiền 50.000.000đ để chuộc giấy tờ liên quan đến thửa đất mà L đã cầm cho bà N1. Sau nhiều lần yêu cầu L làm thủ tục chuyển nhượng hoặc trả lại tiền nhưng L không trả nên bà T đã tố cáo đến cơ quan công an.
Như vậy, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã thực hiện nêu trên đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo theo cáo trạng số 01/CT-VKSKV11, ngày 29/9/2025 là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra; nhân thân và các tình tiết tăng nặng; giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt.
Xét thấy do túng quẫn và có động cơ muốn chiếm đoạt tài sản của người khác từ trước, bị cáo L đã đưa ra thông tin gian dối về việc bản thân có quyền sử dụng đất để bị hại tin tưởng và đồng ý mua đất, thông qua thủ đoạn nêu trên bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại Phạm Thúy T số tiền 90.000.000đ. Như vậy, tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của các bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và trật tự an toàn xã
5
hội. Do đó cần có hình phạt nghiêm khắc để răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận; bị cáo đã tác động gia đình khắc phục thiệt hại cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bản thân bị cáo là người cao tuổi và đang là thân nhân đang trực tiếp thờ cúng liệt sỹ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS, cần áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt: Xét bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ; Bị cáo phạm tội lần đầu, bản thân chưa có tiền án, tiền sự; Bị cáo là người cao tuổi, có nơi cư trú ổn định tại Phường P, TP .; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận; Bị cáo đã tác động gia đình để khắc phục thiệt hại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì thêm về dân sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bản thân bị cáo là thân nhân đang trực tiếp thờ cúng liệt sỹ. Vì vậy, xét không cần thiết áp dụng hình phạt cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu tòa án xem xét về trách nhiệm dân sự của bị cáo nên không xem xét.
[5] Về vật chứng: Các tài liệu do cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra, đương sự nộp tại tòa và Viện kiểm sát thu thập trong quá trình điều tra bổ sung gồm: 01 bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 465307; 01 bản gốc hợp đồng đặt cọc ngày 26/6/2020; 01 bản gốc giấy cam kết; 01 bản gốc đơn xin giảm nhẹ hình phạt; 01 bản gốc giấy biên nhận thanh toán tiền giữa bà T1, ông B1 và bà T; 01 tập tài liệu xác định bị cáo L là thân nhân đang thờ cúng liệt sỹ Nguyễn Thanh B1 đều là chứng cứ của vụ án nên cần lưu theo hồ sơ.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời gian thử thách án treo là 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Do bị cáo Nguyễn Thị L đang bị tạm giam và bị cáo không bị tạm giam hoặc đang thi hành án trong vụ án khác nên tuyên trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa.
Giao bị cáo Nguyễn Thị L cho Ủy ban nhân dân Phường P, Thành phố Hồ
6
Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Thị L vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 93 của Luật thi hành án hình sự; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành tù của Bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định của Bộ luật Hình sự.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, buộc bị cáo Nguyễn Thị L phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA. Phạm Thị H |
Bản án số 147/2025/HSST ngày 05/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 147/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lừa đảo chiếm đoạt tài sản cụ thể là đất
