|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 147/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30/6/2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Mai Thị Toán.
- Ông Lê Hồng Tâm.
Thư ký phiên tòa: Bà Trà Thị Mỹ Ngọc- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, thành phố Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, thành phố H (Số B Đường H, thị trấn P, huyện P, thành phố H) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 76/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 970/2025/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Đào Thị H, sinh năm 1996. Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, thành phố H. Có mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, thành phố H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đào Thị H trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Thị H và ông Nguyễn Văn R quen biết nhau thông qua sự giới thiệu của người thân, sau một thời gian tìm hiểu nhau thì kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V (nay là xã P), huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) vào ngày 26/02/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian tại Thôn T, xã P, huyện P thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cải vã, xúc phạm lẫn nhau. Vợ chồng sống ly thân đã được 04 năm, bà H cùng 02 con đã chuyển về nhà bố mẹ ruột tại Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P để sinh sống. Còn ông Nguyễn Văn R thì sinh sống tại nhà cha mẹ ruột ở thôn T, xã P, huyện P. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng kéo dài và không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H xin được ly hôn với ông R.
- Về con chung: Bà Đào Thị H khai vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 10/12/2019 và cháu Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 13/9/2021, hiện ở cùng với bà H. Bà H có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Không yêu cầu ông R cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đào Thị H khai không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Phú Vang đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn R có thái độ không hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án, cụ thể ông R đã được Tòa án niêm yết Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông R không đến Tòa án để làm việc nên không có lời khai của ông Nguyễn Văn R.
Qua xác minh tại chính quyền địa phương xã P, lời khai của bà Lê Thị Á (mẹ ruột của Nguyễn Văn R) xác định: Ông Nguyễn Văn R và bà Đào Thị H có đăng ký kết hôn, vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Đăng K, sinh ngày 10/12/2019 và cháu Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 13/9/2021. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, ông R hiện làm ăn xa, nhưng vẫn về sinh sống tại thôn T, xã P. Hai con hiện tại do bà H trông nom, nuôi dưỡng.
Quá trình giải quyết vụ án, ông Đào H1, bà Lê Thị T (là bố mẹ ruột của bà Đào Thị H) có đơn trình bày ý kiến về việc đồng ý hỗ trợ bà H nuôi dưỡng, chăm sóc và đưa đón hai cháu ngoại đi học.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
- Về việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật về tố tụng, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang có ý kiến: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án, người tiến hành tố tụng, nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng không có vi phạm gì cần kiến nghị khắc phục. Bị đơn không thực hiện đúng quy định tại điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vắng mặt tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đào Thị H, cho bà H được ly hôn ông R. Về con chung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cho bà H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 10/12/2019 và cháu Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 13/9/2021 đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Bà H không yêu cầu ông R cấp dưỡng tiền nuôi con chung nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Về tài sản chung và nợ chung, bà H khai nhận không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Buộc bà H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Văn R đang cư trú tại địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, thành phố H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, thành phố H theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Nguyễn Văn R đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan, không có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Thị H và ông Nguyễn Văn R chung sống với nhau, đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Xét về yêu cầu ly hôn của bà Đào Thị H, thấy rằng: Theo kết quả thu thập tài liệu, chứng cứ, lời khai của bà H, có cơ sở xác định nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng chung sống không còn hạnh phúc, đã ly thân đã một thời gian dài. Ông Nguyễn Văn R thường xuyên sống xa nhà, không còn quan tâm và yêu thương bà H. Từ khi bà H có đơn xin ly hôn, phía Tòa án đã nhiều lần triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để ông R trình bày ý kiến theo yêu cầu khởi kiện của bà H nhằm mục đích hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng nhưng ông R không đến, chứng tỏ ông Nguyễn Văn R đã bỏ mặc hôn nhân của mình và coi thường pháp luật. Nhận thấy mâu thuẫn trong hôn nhân giữa bà Đào Thị H và ông Nguyễn Văn R đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Đào Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Văn R là phù hợp pháp luật.
[3] Về con chung: Bà Đào Thị H và ông Nguyễn Văn R có hai người con chung là Nguyễn Đăng K, sinh ngày 10/12/2019 và cháu Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 13/9/2021. Hiện nay, hai cháu đang ở với mẹ. Xét thấy, sau khi vợ chồng sống ly thân, bị đơn ông Nguyễn Văn R không quan tâm, chăm sóc con chung, điều kiện thực tế ông R không đảm bảo để trực tiếp chăm sóc tốt cho hai con. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của hai cháu, cần giao cho bà Đào Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con chung cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình thì người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Quá trình giải quyết, Tòa án đã giải thích cho bà H rõ về các quy định của Luật hôn nhân gia đình về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. Tuy nhiên, bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Đào Thị H khai không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn bà Đào Thị H chịu án phí ly hôn 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đào Thị H. Xử cho bà Đào Thị H được ly hôn ông Nguyễn Văn R; quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao hai cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 10/12/2019 và cháu Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 13/9/2021 cho bà Đào Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi. Hiện nay cả hai cháu đang ở với bà H. Ông Nguyễn Văn R không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí sơ thẩm: Bà Đào Thị H phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng; được khấu trừ hết số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí 0002618 ngày 09/4/2025.
- Bà Đào Thị H có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Văn R có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hồng |
Bản án số 147/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 147/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Thị Hòa - Nguyễn Văn Rin
