Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 147/2025/HNGĐ-ST

Ngày 30 – 5 – 2025

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hiển

Bà Nguyễn Kim Kết

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 180/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Cao Văn N, sinh năm 1986; địa chỉ cư trú: ấp N, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt);

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1985; địa chỉ cư trú: ấp X, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (có mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Anh Cao Văn N trình bày:

- Về hôn nhân: Anh N tổ chức đám cưới với chị M vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ. Quá trình chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi nhau, bất đồng quan điểm, gia đình hai bên hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Thời gian vợ chồng chung sống khoảng vài tháng thì ly thân từ tháng 6/2012 đến nay. Nay tình cảm không còn gắn bó, yêu thương, mỗi người có cuộc sống riêng, không còn ai trách nhiệm với ai. Anh N yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị M.

- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có.

* Chị Nguyễn Thị M trình bày:

- Về hôn nhân: Chị M chung sống với anh N vào năm 2012, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau ngày 09/3/2012, sau đó cùng nhau tổ chức đám cưới. Quá trình chung sống vợ chồng không phát sinh mâu thuẫn gì, được vài tháng thì phát sinh sự việc mất số vàng cưới 5 chỉ vàng 24k được cha mẹ chồng cho, mẹ chồng nghi ngờ chị M lấy vàng nên nảy sinh mâu thuẫn trong gia đình, sau này anh N thừa nhận đã lấy số vàng chung đó dùng vào việc chơi cá độ đá banh riêng, vợ chồng ly thân từ ngày 13/7/2012 đến nay. Nay chị xác định thể tiếp tục chung sống và đồng ý ly hôn với anh N.

- Về con chung: Không có con chung, không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung: 5 chỉ vàng 24k được cha mẹ cho trong ngày cưới, bao gồm một lắc tay 2 chỉ vàng 24k, một sợi dây chuyền có mặt dây là 3 chỉ vàng 24k. Sau khi cưới vợ chồng cùng quản lý vàng nhưng khoảng vài tháng sau khi cưới là xảy ra sự việc mất vàng như trên, khi Công an xã Q vào điều tra, lúc này anh N thừa nhận có lấy vàng đi chơi cá độ đá banh không còn. Nay chị M yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia cho chị hưởng ½ số tài sản chung, buộc anh N giao lại cho chị 2,5 chỉ vàng 24k.

- Về nợ: Không có, không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hôn nhân: Anh N và chị M kết hôn trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp được pháp luật công nhận. Quá trình chung sống anh N và chị M đều xác định vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm và thường xuyên cãi nhau. Hội đồng xét xử xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ chung sống với nhau, thương yêu tôn trọng quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ, cùng nhau chia sẽ và thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, anh chị xác định xảy ra mâu và ly thân nhau từ năm 2012 đến nay mà không thể hàn gắn được cho thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho anh N được ly hôn với chị M là phù hợp.

[3] Về con chung: Anh chị không có con chung nên không đặt ra xem xét là phù hợp.

[4] Về tài sản chung: Anh N và chị M đều xác định tài sản chung của vợ chồng có 5 chỉ vàng nữ trang, loại vàng 24k, được cha mẹ cho trong ngày cưới. Sau khi cưới vợ chồng cùng quản lý vàng nhưng khoảng vài tháng sau khi cưới là xảy ra sự việc mất vàng. Quá trình giải quyết vụ án anh N thừa nhận có lấy vàng đi chơi cá độ đá banh. Tại phiên tòa anh N lại cho rằng dùng vàng để làm vốn làm ăn và trị bệnh cho chị M và chỉ bán một phần để tham gia cá độ nhưng không được chị M thừa nhận, anh N cũng không đưa ra cơ sở chứng minh. Trong khi anh N đã thừa nhận sử dụng số vàng chung vào việc cá nhân riêng, lời thừa nhận của anh N cũng phù hợp với lời trình bày của chị M, việc anh N thay đổi lời khai nhưng không đưa ra được cơ sở chứng minh là nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ phân chia vàng đối với chị M. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị M, phân chia cho chị M được hưởng ½ số tài sản chung, buộc anh N giao lại cho chị M 2,5 chỉ vàng 24k là đúng quy định.

[5] Về nợ chung: Anh N và chị M xác định không có, không đặt ra yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét là phù hợp.

[6] Về án phí: Theo quy định khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a, b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 11 mục IV Giải đáp số 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vướng mắc trong công tác xét xử thì anh N và chị M mỗi người phải chịu 75.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Đối với án phí phân chia tài sản anh N và chị M mỗi người phải chịu 1.322.500 đồng (giá vàng nữ trang tại thời điểm xét xử là 10.580.000 đồng/chỉ)

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 33, Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a, b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 11 mục IV Giải đáp số 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vướng mắc trong công tác xét xử.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Cao Văn N.

  1. Về hôn nhân: Cho anh Cao Văn N được ly hôn chị Nguyễn Thị M.
  2. Về tài sản chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị M.

    Phân chia cho anh Cao Văn N và chị Nguyễn Thị M mỗi người được hưởng 2,5 (hai phẩy năm) chỉ vàng 24k. Buộc anh Cao Văn N có trách nhiệm giao lại cho chị Nguyễn Thị M 2,5 (hai phẩy năm) chỉ vàng 24k.

  3. Về án phí:
    1. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Cao Văn N và chị Nguyễn Thị M mỗi người phải chịu 75.000 đồng (bảy mươi lăm nghìn đồng). Anh N được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001012 ngày 18 tháng 4 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, anh N được nhận lại số tiền chênh lệch 225.000 đồng (hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng).
    2. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Cao Văn N và chị Nguyễn Thị M mỗi người phải chịu 1.322.500 đồng (một triệu ba trăm hai mươi hai nghìn năm trăm đồng); Chị M được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 696.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001075 ngày 06 tháng 5 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, chị M còn phải nộp tiếp số tiền 626.500 (sáu trăm hai mươi sáu nghìn năm trăm đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi;
  • - Ủy ban nhân dân xã Quách Phẩm Bắc, huyện Đầm Dơi;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ĐÃ KÝ)

Nguyễn Ngọc Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 147/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 147/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn, chia tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger