|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 147/2025/HNGĐ-ST Ngày: 12-6-2025. V/v: Ly hôn, con chung giữa chị Trang và anh Tuận. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Ái.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Đê;
Ông Đỗ Việt Hùng.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 101/2025/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2025 về việc “Ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Cao Thị Huyền T, sinh năm 1987; địa chỉ: Xóm E, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
- Bị đơn: Anh Lại Văn T1, sinh năm 1983; địa chỉ: Xóm E, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
Người làm chứng: Bà Đào Thị H, sinh năm 1958; địa chỉ: Xóm E, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.
(Chị T, anh T1, bà H xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 21 tháng 4 năm 2025 và Quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn – chị Cao Thị Huyền T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị Huyền T và anh Lại Văn T1 đăng ký kết hôn ngày 03 tháng 10 năm 2006 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn hai người chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, anh T1 ham chơi, không quan tâm đến gia đình, tình cảm ngày càng lạnh nhạt, cuộc sống chung nặng nề nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2025 cho đến nay. Mặc dù nhiều lần được hai bên gia đình khuyên bảo, bản thân chị T cũng cố gắng để hàn gắn nhưng đều không đạt hiệu quả. Nay xét thấy tình cảm với anh T1 không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T xin được ly hôn với anh T1.
Về con chung: Chị T, anh T1 có 02 con chung là cháu Lại Phương T2, sinh ngày 25/12/2007 và cháu Lại Trung Đ, sinh ngày 08/3/2012. Hiện nay cả hai con chung đang sống cùng chị T, anh T1. Tại lời khai ban đầu chị T xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, sau đó, chị T thay đổi quan điểm, cụ thể: chị T xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lại Phương T2, để cháu Lại Trung Đ cho anh Lại Văn T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, anh Lại Văn T1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh T1 xác nhận lời khai của chị T về thời gian hai người kết hôn, quá trình chung sống. Anh T1 công nhận vợ chồng chung sống hoà thuận hạnh phúc được một thời gian thì gần đây xảy ra mâu thuẫn do anh T1 ham chơi, làm vợ con phải chịu khổ, hai người chung sống không hạnh phúc nhưng vì nghĩ đến con nên cố gắng tiếp tục chung sống cho đến nay. Nay chị T làm đơn ly hôn, anh T1 xác định cuộc sống chung không thể kéo dài nên nhất trí ly hôn chị T.
Về con chung: Chị T, anh T1 có 02 con chung là cháu Lại Phương T2, sinh ngày 25/12/2007 và cháu Lại Trung Đ, sinh ngày 08/3/2012. Hiện nay cả hai con chung đang sống cùng chị T, anh T1. Nay ly hôn, anh T1 xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lại Trung Đ, để cháu Lại Phương T2 cho chị Cao Thị Huyền T trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Anh T1 xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh T1 đề nghị giao các tài liệu cho bà Đào Thị H là mẹ đẻ nhận thay anh T1.
* Tại bản tự khai bà Đào Thị H trình bày: Bà H là mẹ đẻ, cùng nơi cư trú với anh T1, công nhận lời trình bày của chị T, anh T1 như trên là đúng. Nay chị T làm đơn xin ly hôn, bà H nhận trách nhiệm nhận các văn bản tố tụng và cam kết giao cho anh T1.
Tại phiên Toà, chị T, anh T1, bà H xin vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, các đương sự là chị Cao Thị Huyền T và anh Lại Văn T1, người làm chứng là bà Đào Thị H vắng mặt theo ý kiến xin vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt đương sự, người làm chứng.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa chị Cao Thị Huyền T và anh Lại Văn T1 là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn ngày 03 tháng 10 năm 2006. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, anh T1 không quan tâm đến gia đình, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, cuộc sống chung nặng nề nên hai người đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2025 cho đến nay. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T1 không còn nên đề nghị Tòa án cho ly hôn. Anh T1 xác nhận mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng và nhất trí ly hôn chị T.
[3] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị T với anh T1 qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận định: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T1 là trầm trọng, kéo dài, hai bên đã có thời gian sống ly thân nhưng cả hai người đều không có biện pháp cụ thể nhằm hàn gắn tình cảm và mong muốn cuộc sống chung của vợ chồng tiếp tục tồn tại. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị Cao Thị Huyền T được ly hôn anh Lại Văn T1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Về con chung: Chị T, anh T1 có 02 con chung là cháu Lại Phương T2, sinh ngày 25/12/2007 và cháu Lại Trung Đ, sinh ngày 08/3/2012. Hiện nay cả hai con chung đang sống cùng chị T, anh T1. Nay ly hôn, chị T xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu T2, để cháu Đ cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T1 nhất trí.
Xét điều kiện, hoàn cảnh thực tế hiện nay, nguyện vọng của đương sự và của con chung thì thấy: Nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung của chị T, anh T1 là hoàn toàn chính đáng; anh T1, chị T có quan điểm đồng nhất về việc nuôi dưỡng con chung. Bên cạnh đó, cháu T2 có nguyện vọng được sống cùng chị T, cháu Đ có nguyện vọng được sống cùng anh T1, phù hợp với mong muốn của chị T, anh T1 nên cần giao cháu Lại Phương T2 cho chị Cao Thị Huyền T trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Lại Trung Đ cho anh Lại Văn T1 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung: Do đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản: Chị T, anh T1 xác nhận không có tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6] Về án phí: Chị Cao Thị Huyền T là nguyên đơn nên phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Cao Thị Huyền T và anh Lại Văn T1.
- Về con chung: Giao cháu Lại Phương T2, sinh ngày 25/12/2007 cho chị Cao Thị Huyền T trực tiếp nuôi dưỡng; Giao cháu Lại Trung Đ, sinh ngày 08/3/2012 cho anh Lại Văn T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau mà có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung. (Hiện nay, hai con chung đang sống cùng chị T, anh T1).
- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Chị Cao Thị Huyền T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0000445 ngày 29/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu. Chị Cao Thị Huyền T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Ái |
Bản án số 147/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, con chung
- Số bản án: 147/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn c Tr và a T
