Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 147/2025/DS-ST

Ngày: 30 - 5 - 2025

V/v “tranh chấp hụi”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Ngọc Sơn.
  • Bà Nguyễn Kim Huệ.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Nhật là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 189/2025/TLST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2025/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim B, sinh năm 1979 (xin vắng mặt).
  • Địa chỉ cư trú: Ấp C, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.
  • - Bị đơn: Bà Huỳnh Kim T, sinh năm 1975 (vắng mặt).
  • Ông Nguyễn Văn T1 (vắng mặt).
  • Cùng địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 01 tháng 4 năm 2025, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Kim B trình bày: Bà B tham gia nhiều dây hụi do bà T và ông T1 làm chủ cụ thể:

Dây thứ nhất: Vào ngày 02/11/2023 âm lịch bà Huỳnh Kim T và chồng là ông Nguyễn Văn T1 có mở một dây hụi giá 2.000.000 đồng, dây hụi có 42 phần, hụi mỗi tháng khui 01 lần, bà tham gia 03 phần, tên trong danh sách hụi là Biên Bờ C. Tại các kỳ khui hụi bà đều đóng hụi đầy đủ cho bà T và ông T1. Hụi khui đến lần tứ 13 thì bà T và ông T1 tuyên bố đình hụi nhưng không nói rõ lý do. Bà đã nhiều lần yêu cầu bà T, ông T1 thanh toán tiền hụi tuy nhiên bà T và ông T1 chỉ hứa hẹn cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Sau khi đình hụi bà T và ông T1 còn nợ lại bà là 12 lần hụi chết tương ứng là 72.000.000 đồng.

Dây thứ hai: Vào ngày 10/4/2024 âm lịch bà Huỳnh Kim T và chồng là ông Nguyễn Văn T1 có mở một dây hụi giá 1.000.000 đồng, dây hụi có 34 phần, hụi mỗi tháng khui 01 lần, bà tham gia 01 phần, tên trong danh sách hụi là Biên Bờ C. Tại các kỳ khui hụi bà đều đóng hụi đầy đủ cho bà T và ông T1. Hụi khui đến lần tứ 08 thì bà T và ông T1 tuyên bố đình hụi nhưng không nói rõ lý do. Bà đã nhiều lần yêu cầu bà T, ông T1 thanh toán tiền hụi tuy nhiên bà T và ông T1 chỉ hứa hẹn cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Sau khi đình hụi bà T và ông T1 còn nợ lại bà là 07 lần hụi chết tương ứng là 7.000.000 đồng.

Dây thứ ba: Vào ngày 06/8/2022 âm lịch bà có mở một dây hụi giá 2.000.000 đồng, dây hụi có 40 phần, hụi mỗi tháng khui 01 lần, bà T và ông T1 tham gia 02 phần, tên trong danh sách hụi là Chị 2 Thống. Ngày 06/02/2023 bà T và ông T1 hốt hụi phần thứ nhất bà đã chung hụi đầy đủ cho bà T và ông T1.

Đến ngày 06/4/2023 bà T và ông T1 hốt hụi phần còn lại và bà đã chung đủ tiền cho bà T và ông T1. Sau đó bà T và ông T1 có đóng hụi chết đến ngày 06/9/2024. Tính đến ngày 06/02/2025 âm lịch bà T và ông T1 còn nợ bà 05 kỳ hụi chết tương ứng số tiền là 20.000.000 đồng.

Dây thứ tư: Vào ngày 10/01/2023 âm lịch bà có mở một dây hụi giá 2.000.000 đồng, dây hụi có 34 phần, hụi mỗi tháng khui 01 lần, bà T và ông T1 tham gia 02 phần, tên trong danh sách hụi là Chị Hai T2. Ngày 10/3/2023 bà T và ông T2 hốt hụi phần thứ nhất bà đã chung hụi đầy đủ cho bà T và ông T2.

Đến ngày 10/6/2023 bà T và ông T2 hốt hụi phần còn lại và bà đã chung đủ tiền cho bà T và ông T2. Sau đó bà T và ông T2 có đóng hụi chết đến ngày 06/9/2024. Tính đến ngày 06/02/2025 âm lịch bà T và ông T2 còn nợ bà 05 kỳ hụi chết tương ứng số tiền là 20.000.000 đồng.

Tổng 08 phần hụi bà T và ông T2 nợ bà là 119.000.000 đồng.

Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Huỳnh Kim T và ông Nguyễn Văn T1 trả cho bà số tiền hụi còn nợ là 119.000.000 đồng.

Đối với bà Huỳnh Kim T và ông Nguyễn Văn T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng ông T1 vắng mặt và không cung cấp lời khai cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Kim B khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Huỳnh Kim T và ông Nguyễn Văn T1 trả tiền nợ hụi. Do đó, đây là tranh chấp dân sự về việc “Tranh chấp hụi” nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Nguyễn Văn T1 và bà Huỳnh Kim T là bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn T1 và bà Huỳnh Kim T.

Bà Nguyễn Kim B xin vắng mặt tham gia phiên tòa. Nay căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ.

[3] Nội dung tranh chấp: Bà B xác định bà tham gia hai dây hụi do bà T và ông T1 làm chủ, loại hụi 2.000.000 đồng và 1.000.000 đồng, ông tham gia tất cả 04 phần, đã đóng hụi đầy đủ cho bà T và ông T1. Tuy nhiên bà T và ông T1 tuyên bố đình hụi, không rõ lý do. Ngoài ra, bà T và ông T1 còn tham gia hai dây hụi do bà làm chủ, bà T và ông T1 tham gia 04 phần hụi và còn nợ lại bà với số tiền hai phần hụi chết đến tháng 02/2025 âm lịch là 40.000.000 đồng. Có cơ sở xác định bà T và ông T1 có nợ tiền hụi của bà B với số tiền tổng cộng là 119.000.000 đồng là có thật, do bà B có cung cấp danh sách hụi viên, có tên bà B và Chị Hai T2 tham gia. Ông T2 và bà T được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng ông T2 và bà T không tham gia tố tụng cũng không có ý kiến gì về nội dung khởi kiện và chứng cứ do bà B cung cấp. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà B về việc yêu cầu bà T và ông T2 trả số tiền 119.000.000 đồng là có cơ sở.

Do chủ hụi phải có nghĩa vụ giao hụi theo từng kỳ mà hụi viên đã đóng được tính trên số phần hụi chết là có cơ sở. Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Kim B buộc bà T và ông T2 có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho bà B số tiền của bốn dây hụi là 119.000.000 đồng.

[4] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ, nay buộc bà Huỳnh Kim T và ông Nguyễn Văn T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; nguyên đơn được hoàn lại tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 471 của Bộ luật dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2019 về hụi, họ, biêu, phường và áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Kim B. Buộc bà Huỳnh Kim T và ông Nguyễn Văn T1 cùng liên đới trả cho bà Nguyễn Kim B số tiền 119.000.000 đồng (một trăm mười chín triệu đồng).

    Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

  2. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

    Buộc bà Huỳnh Kim T và ông Nguyễn Văn T1 phải chịu 5.950.000 đồng (năm triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).

    Bà Nguyễn Kim B đã nộp tạm ứng số tiền 2.975.000 đồng (hai triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), tại biên lai thu tiền số 0003992 ngày 08/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, nay hoàn lại toàn bộ cho bà Nguyễn Kim B.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS (khi có hiệu lực);
  • - Phòng KTNV&THA (TAND tỉnh Cà Mau);
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Sơn Ngọc Trọng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 147/2025/DS-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 147/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà B yêu cầu bà T và ông T1 trả tiền nợ hụi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger