|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 147/2024/HSST Ngày: 17/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Bảo Long.
- Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Long
2. Bà Trương Thị Thái
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Hiếu – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh H - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 105/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXXST ngày 10 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 41 ngày 27 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Ngô Minh H1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 14/9/2007, tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: ngõ B, Đ, xã T, T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Họ tên cha: Ngô Thế A (sinh năm: 1973); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Minh H2 (Sinh năm: 1975), Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không. (Có mặt tại phiên tòa);
Người đại diện theo pháp luật: Chị Nguyễn Thị Minh H2, sinh năm: 1975, địa chỉ: ngõ B, đội C, xã T, huyện T, Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa)
Người bào chữa: Bà Đinh Thị Phương M – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa)
-
Họ và tên: Trần Gia K; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 29/9/2007, tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT: số 105 A10, KĐT C, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Nơi ở: ngõ A, thôn S, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 8/12; Họ tên cha: Trần Hải Q (sinh năm: 1982); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H3 (Sinh năm: 1983), Bị cáo là con duy nhất; Tiền án, tiền sự: Không. (Có mặt tại phiên tòa)
Người đại diện theo pháp luật: Anh Trần Hải Q, sinh năm: 1982, địa chỉ: P, Thị trấn C, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa)
Người bào chữa: Bà Đinh Thị Phương M – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa)
-
Họ và tên: Nguyễn Đình C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 14/12/2007, tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Họ tên cha: Nguyễn Đình K1 (sinh năm: 1965); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị P (Sinh năm: 1975), Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không. (Có mặt tại phiên tòa);
Người đại diện theo pháp luật: Anh Nguyễn Đình K1; Sinh năm: 1965; Địa chỉ: Xóm T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa)
Người bào chữa: Bà Nguyễn Thị L – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa)
-
Họ và tên: Nguyễn Quang T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 26/8/2007, tại Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Cụm I, thôn V, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Họ tên cha: Nguyễn Quang T1 (sinh năm: 1982); Họ tên mẹ: Đỗ Thị T2 (Sinh năm: 1983), Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không. (Có mặt tại phiên tòa);
Người đại diện theo pháp luật: Anh Nguyễn Quang T1 (sinh năm: 1982); Chị Đỗ Thị T2 (Sinh năm: 1983); Địa chỉ: Cụm I, thôn V, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa)
Người bào chữa: Bà Nguyễn Thị L – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H. (Có mặt tại phiên tòa)
Bị hại: Ông Bùi Văn M1; Sinh năm: 1969; Địa chỉ: số nhà F ngõ A Thôn S, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. (Vắng mại tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Ngô Minh H1 thường xuyên đến nhà ông Bùi Văn M1 (sinh năm: 1969) ở số nhà F Ngõ A Thôn S, xã T, huyện T, Hà Nội chơi nên biết ông M1 sống một mình và thường để tiền trong chiếc tủ thờ ở phòng khách tầng 1. Khoảng 7 giờ 00 ngày 30/01/2024 do cần tiền tiêu xài nên H1 nhắn tin rủ Trần Gia K trộm cắp tiền của ông M1 thì K đồng ý. H1 bảo với K quan sát xem ông M1 có ở nhà không để thực hiện việc trộm cắp nhưng do ông M1 đang ở nhà nên K và H1 không thực hiện được ngay việc trộm cắp.
Đến khoảng 11giờ cùng ngày K tiếp tục quan sát và phát hiện nhà ông M1 khóa cửa và không có người ở nhà nên K tiếp tục nhắn tin bảo H1 đi xuống khu vực gần nhà ông M1 để cùng nhau trộm cắp tài sản.
Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày Nguyễn Đình C, Nguyễn Quang T đến ngõ A thôn S chơi thì gặp K và H1. Tại đây cả nhóm bàn bạc vào nhà ông M1 để trộm cắp tiền. H1 bảo K di mượn máy cắt mài sắt cầm tay và dây diện có ổ cắm để cắt khóa cửa còn K, C, T đứng ở cổng sau nhà ông M1 canh gác và chờ H1 lấy được tiền vứt ra ngoài tường thì đón nhận. Sau đó K đến gặp và mượn của anh Nguyễn Tràng T3 (sinh năm: 1983; HKTT: Đội 11, thôn S, xã T, T, Hà Nội) 01 máy mài cắt sắt; Mượn của ông Trần Hữu N (sinh năm: 1972 ở Đội 10 Thôn S, T, T, Hà Nội) 01 ổ điện có dây dài 5m rồi mang về đưa cho H1 thì H1 cắm điện và dùng máy cắt tai khóa cửa nhà ông M1. Khi cắt xong H1 đưa máy mài và ổ điện có dây cho K cầm còn H1 tiếp tục đi vào trong nhà và lấy 01 kéo có sẵn trong nhà cậy mở tủ gỗ thì thấy bên trong tủ có 02 chiếc cặp bằng nhựa cứng màu xám đen (Trong mỗi cặp có chứa khoảng 8.000.000 đồng với nhiều mệnh gia tiền khác nhau). 01 hộp gỗ màu đỏ (bên trong chứa 58.000.000 đồng nhiều mệnh giá tiền khác nhau); 01 hộp nhựa màu đỏ (bên trong chứa 53.090.000 đồng nhiều mệnh giá tiền khác nhau). H1 liền trộm cắp 02 chiếc cặp rồi mang ra phía tường rào ném ra phía ngoài tường thì T và C cầm 02 cặp nhựa đựng tiền đi về trước. Sau đó H1 quay lại mở tủ và tiếp tục trộm cắp 01 hộp gỗ màu đỏ và 01 hộp nhựa màu đỏ và đi ra ngoài. H1 và K mỗi người cầm 01 hộp gỗ và đi về, trên đường về nhà H1 cất giấu hộp gỗ ở bụi cây ven đường (Trong hộp gỗ H1 cất còn lại 14.000.000 đồng) còn K lấy hết tiền trong hộp nhựa và vứt hộp nhựa ở mương nước gần đó rồi đi về.
Trên đường đi về đến đoạn đường vắng thuộc xã T thì C và T mở 2 chiếc cặp ra rồi lấy hết số tiền có trong 02 cặp là 16.155.000 đồng và vứt cặp lại ven đường. T nói với C mang tiền về cất ở nhà thì C đồng ý cho T mang tiền về để cất giấu rồi ăn tiêu sau. Sau đó T và C lấy 500.000 đồng để đi ăn với nhau số tiền còn lại 15.655.000 đồng T mang về nhà cất giấu.
Sau khi thực hiện việc trộm cắp: H1 chia và tự lấy tổng số tiền 58.000.000 đồng, H1 đã tiêu và sử dụng việc ăn tiêu cá nhân của H1 hết 27.000.000 đồng. K được chia tổng số tiền 53.090.000 đồng, K đã sử dụng và ăn tiêu hết 900.000 đồng.
Tổng tất cả số tiền mà H1, K, T, C đã tham gia trộm cắp tài sản của nhà ông M1 là 127.245.000₫
Ngày 31/01/2024, Ngô Minh H1, Trần Gia K đến Công an xã T đầu thú. Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải và thu giữ của:
- Ngô Minh H1 01 hộp gỗ màu đỏ kích thước (30x20x15) cm bên trong có 14.000.000 đồng;
- Ngô Minh H1 giao nộp số tiền: 17.000.000 đồng và 01 hộp nhựa màu đỏ kích thước (30x20x10)cm;
- Nguyễn Quang T giao nộp số tiền: 16.155.000 đồng
- Trần Gia K giao nộp số tiền: 52.190.000 đồng
- Ông Bùi Văn M1 giao nộp 01 chiếc kéo bằng kim loại màu trắng, tay cầm có nhựa màu xám.
- Anh Nguyễn Tràng T3 giao nộp 01 máy cắt sắt cầm tay có vỏ bằng nhựa màu xanh den, đã qua sử dụng
- Anh Trần Hữu N giao nộp 01 ổ cắm dây điện đã qua sử dụng.
Ngày 15/03/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T có Yêu cầu định giá tài sản đối với 02 cặp nhựa màu xám đen; 01 hộp gỗ màu đỏ; 01 hộp nhựa màu đỏ; 01 khóa cửa và 01 khóa tủ gỗ bị hư hỏng là tài sản của ông Bùi Văn M1;
Tại Công văn số 08/HDĐG ngày 19/3/2024 Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện T từ chối định giá do Cơ quan điều tra cung cấp chưa đủ căn cứ pháp lý để Hội đồng định giá tiến hành định giá tài sản.
Tại Cơ quan điều tra Ngô Minh H1, Trần Gia K, Nguyễn Đình C, Nguyễn Quang T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu do cơ quan điều tra thu thập được.
Đối với 01 máy cắt sắt cầm tay có vỏ bằng nhựa màu xanh đen, đã qua sử dụng quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Nguyễn Tràng T3 và 01 ổ cắm dây diện, đã qua sử dụng là tài sản của anh Trần Hữu N, anh T3 và anh N cho Trần Gia K mượn nhưng không biết K sử dụng tài sản vào việc phạm tội, nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho anh T3 và anh N. Hai anh đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì.
Đối với 01 chiếc kéo bằng kim loại màu trắng, tay cầm có nhựa màu xám, đã qua sử dụng; 01 hộp gỗ màu đỏ kích thước (30x20x15)cm; 01 hộp nhựa màu đỏ kích thước (30x20x10)cm là tài sản của ông Bùi Văn M1, nên Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho ông Bùi Văn M1.
Đối với anh anh Vũ Văn D (SN:1984; Trú tại: H, H, Nam Định) là người mua chiếc điện thoại Iphone 15pro của H1 đến ngày 30/01/2024 H1 đến gặp và mua lại chiếc điện thoại đã bán cho anh với giá 13.000.000 đồng. Anh D không biết số tiền H1 trả cho anh khi mua điện thoại nguồn gốc là do trộm cắp mà có, anh D đã sử dụng cá nhân hết số tiền này, do đó Cơ quan CSDT không xử lý gì đối với anh D.
Qúa trình điều tra xác định ông Bùi Văn M1 bị mất tổng số tiền là 127.245.000 đồng. Cơ quan CSĐT đã thu giữ được số tiền còn lại mà H1, K, T, C đã trộm cắp được của nhà ông M1 là 98.845.000 đồng. Ngày 02/4/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Mã số tiền 98.845.000 đồng.
Ngày 28/02/2024 các bị cáo đã tự nguyện bồi thường tổng số tiền 28.400.000 đồng cho ông Bùi Văn M1 (trong đó: H1 bồi thường số tiền 27.000.000 đồng, K bồi thường 900.000 đồng; C và T bồi thường số tiền 500.000 đồng), ông M1 đã nhận lại số tiền 28.400.000 đồng và không yêu cầu bồi thường đối với 02 chiếc cặp nhựa màu xám và phần thiệt hại của khóa cửa cổng và khóa cửa tủ gỗ bị hư hỏng do các bị cáo gây ra và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 105/CT-VKSTT ngày 15/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo Ngô Minh H1, Trần Gia K, Nguyễn Đình C, Nguyễn Quang T đều về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải, công nhận nội dung bản cáo trạng là đúng và mong hội đồng xét xử xử phạt mức án nhẹ nhất, cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
Những người đại diện theo pháp luật của các bị cáo đều có ý kiến nhất trí với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, nhận thức được trách nhiệm của mình trong giáo dục, quản lý con cái và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội.
Bị hại ông Bùi Văn M1 có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử công bố các văn bản, tài liệu, chứng cứ, lời khai của ông M1 trong hồ sơ vụ án.
Các trợ giúp pháp lý bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa đều nhất trí tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố các bị cáo tại bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuôi, nhận thức pháp luật còn hạn chế; Các bị đều chưa có tiền án tiền sự, phạm tội do bột phát; Sau khi phạm tội các bị cáo đã đầu thú và cùng gia đình tự nguyện bồi thường khắc phúc hậu quả; Bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và có đơn xin giảm hình phạt cho các bị cáo; Bị cáo Trần Gia K có hoàn cảnh gia đình éo le..., căn cứ các điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Các Điều 54, 65, 91, 101 cho các bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho hưởng án treo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa, sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cần áp dụng đối với bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo tại bản cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 2 điều 173; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Ngô Minh H1 từ 26 đến 28 tháng tù; Bị cáo Trần Gia K từ 26 đến 28 tháng tù; Bị cáo Nguyễn Đình C từ 24 đến 26 tháng tù ; Bị cáo Nguyễn Quang T từ 24 đến 26 tháng tù cùng về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định pháp luật.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo, ý kiến của những người đại diện theo pháp luật của các bị cáo, những người bào chữa cho các bị cáo...
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi hoặc quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản tiếp nhận người ra đầu thú, lời khai của người làm chứng, lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ... cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 12 giờ ngày 30/01/2024, tại nhà ông Bùi Văn M1 ở địa chỉ số nhà F Ngõ A Thôn S, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, Ngô Minh H1, Trần Gia K, Nguyễn Đình C và Nguyễn Quang T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Bùi Văn M1 tổng số tiền 127.245.000 đồng, phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội danh và hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chẳng những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an xã hội; Tổng số tài sản mà các bị cáo đã chiếm đoạt sau khi thực hiện hành vi phạm tội có giá trị không nhỏ (127.245.000 đồng); Đây là vụ án có hành vi đồng phạm giản đơn. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã lên kế hoạch và phân chia vai trò, vị trí từ đầu. Vì vậy cần phải đưa ra một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. Không thể cho các bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của các trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo tại phiên tòa.
Đối với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và vai trò của các bị cáo trong vụ án, thấy:
Bị cáo Ngô Minh H1 là người có vai trò chính. Bị cáo là người khởi xướng, trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp cùng với sự giúp sức của các bị cáo khác và cũng là người hưởng lợi nhiều nhất từ số tài sản đã trộm cắp, vì vậy phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác.
Bị cáo Trần Gia K có vai trò giúp sức tích cực hơn và là người hưởng lợi nhiều hơn từ số tài sản đã trộm cắp so với bị cáo C và bị cáo T nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo C và bị cáo T.
Bị cáo Nguyễn Đình C và bị cáo Nguyễn Quang T được hưởng lợi không nhiều từ số tài sản đã trộm cắp, có vai trò thấp nhất, phải chịu mức hình phạt ngang nhau.
[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Các bị cáo đã đầu thú, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; Tài sản chiếm đoạt đã được trả lại cho bị hại; Bị hai không có yêu cầu gì về bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; Gia đình bị cáo K có hoàn cảnh đặc biệt éo le... Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng đối với các bị cáo.
Xét thấy các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; Có nơi cư trú rõ ràng. Khi phạm tội các bị cáo đều chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế, chỉ do lòng tham nhất thời nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong vụ án này, cho các bị cáo được hưởng án treo, được cải tạo dưới sự giám sát của cha mẹ và chính quyền địa phương theo quy định tại các Điều 65, 91 và 101 Bộ luật Hình sự để có cơ hội tiếp tục học tập, tu dưỡng đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
[4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là người chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về bồi thường dân sự: Bị hại là ông Bùi Văn M1 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường gì khác nên không xét.
[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Những người đại diện theo pháp luật của các bị cáo, những người bào chữa cho các bị cáo chưa thành niên có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Từ các nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Ngô Minh H1, bị cáo Trần Gia K, bị cáo Nguyễn Đình C và bị cáo Nguyễn Quang T phạm tội “Trộm cắp tài sản”
-
Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173; Các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự 2015;
Áp dụng: Các Điều 135; 331; 333; 336 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015;
Áp dụng: Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.
-
Xử phạt:
- - Bị cáo Ngô Minh H1 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
- - Bị cáo Trần Gia K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
- - Bị cáo Nguyễn Đình C 02 (hai) năm tù nhưng có hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
- - Bị cáo Nguyễn Quang T 02 (hai) năm tù nhưng có hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Về án phí và quyền kháng cáo:
Các bị cáo, mỗi người phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Những người đại diện theo pháp luật của các bị cáo, những người bào chữa cho các bị cáo chưa thành niên có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Bị hại – Ông Bùi Văn M1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
- - TAND thành phố Hà Nội ;
- - VKSND huyện Thanh Trì;
- - Công an huyện Thanh Trì;
- - Chi cục THADS huyện Thanh Trì
- - Các bị cáo
- - Lưu hồ sơ vụ án.
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Bảo Long |
Bản án số 147/2024/HSST ngày 17/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 147/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo H1, K, C, T có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông M1 số tiền 127.245.000 đồng
