Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147/2024/HS-ST

Ngày: 26-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phơ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Thanh Hiền
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh Thuý – Phó Hiệu trưởng Trường trung học cơ sở Nguyễn Hiền, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Ngọc Đức - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 145/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 604/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Lý Thành Đ (Tên gọi khác:/), sinh ngày 16/5/2006 tại tỉnh Kiên Giang; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ B, ấp H X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: Số C đường P, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: Lý Văn T, họ và tên mẹ: Huỳnh Thị Bích N; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  2. Phạm Hữu Anh T1 (Tên gọi khác: C), sinh ngày 21/10/2007 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn E, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Số C Đường E, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; họ và tên cha: (Không rõ), họ và tên mẹ: Phạm Thị Lan S; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện hợp pháp cho Phạm Hữu Anh T1: Bà Phạm Thị Lan S, sinh năm 1973 (mẹ ruột của Phạm Hữu Anh T1); nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn E, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Số C đường E, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt).

Người bào chữa cho Lý Thành Đ, Phạm Hữu Anh T1: Ông Vũ Hữu Thiên  - Luật sư văn phòng L thuộc đoàn Luật sư Thành phố H; (có mặt).

Bị hại: Nguyễn Quang T2, sinh năm 1992; địa chỉ: Số A Đường C, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị P, sinh năm 1981; địa chỉ: P, số C đường P, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lý Thành Đ làm nhân viên bảo vệ cho Công ty TNHH Đ1 Thống Nhất từ ngày 28/3/2024, được phân công trực máy kiểm soát xe ra vào tại hầm lô C, chung cư B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình làm việc, Đ biết được trong hầm có 01 xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 86X1-6766 để lâu không có người lấy sử dụng. Vào ca trực tối ngày 11/4/2024, Đ dùng tay đưa vào cốp xe, kiểm tra có thẻ giữ xe bên trong không, thì phát hiện có 01 thẻ giữ xe, lợi dụng lúc bãi xe vắng người, Đ lấy thẻ giữ xe bên trong cốp xe, bỏ vào túi quần cất giấu. Do sợ bị bảo vệ làm chung phát hiện, Đ nghĩ đến việc rủ Phạm Hữu Anh T1 cùng tham gia trộm cắp xe Exciter biển số 86X1-6766. Đ biết thẻ giữ xe là dành cho khách vãng lai, khi lấy xe phải thanh toán phí giữ xe. Để có tiền trả phí giữ xe, Đ lên mạng xã hội đăng bán xe gắn máy hiệu Sirius của Đ không rõ biển số, do Đ mua trên mạng xã hội, không làm thủ tục sang tên. Có người liên hệ mua xe với giá 3.800.000 đồng, Đ liên lạc với T1, kêu T1 giúp Đ đi bán xe Sirius, T1 đồng ý. T1 điều khiển xe gắn máy hiệu Lifan biển số 67AE-053.99 đến chung cư B gặp Đ. Đ chỉ T1 vị trí để xe Exciter biển số 86X1-6766 và rủ T1 lấy trộm xe. T1 đồng ý. Đến 19 giờ cùng ngày, sau khi hết ca làm, Đ điều khiển xe gắn máy hiệu Sirius, T1 điều khiển xe gắn máy hiệu Lifan biển số 67AE-053.99 qua Quận D, bán xe gắn máy hiệu Sirius cho người không rõ lai lịch giá 3.800.000 đồng. T1 điều khiển xe gắn máy hiệu Lifan biển số 67AE-053.99 chở Đ về hầm lô C, chung cư B. Đ đưa T1 3.600.000 đồng và thẻ giữ xe Exciter biển số 86X1-6766 để T1 đi bộ vào hầm lấy xe, Đ chờ ở bên ngoài. T1 dắt xe Exciter biển số 86X1-6766 qua khu vực kiểm soát xe ra vào, bảo vệ đang trực máy quẹt thẻ kiểm tra đúng loại xe và biển số thì thông báo phí giữ xe là 2.318.000 đồng, T1 trả đủ tiền. T1 nói bị mất chìa khóa xe, bảo vệ đối chiếu đúng thông tin về đặc điểm, biển số xe nên mở thanh chắn cho T1 dẫn xe đi qua.

Sau khi lấy được xe, Đ điều khiển xe Lifan biển số 67AE-053.99 đẩy T1 ngồi trên xe Exciter biển số 86X1-6766 đến đường P thì cả hai đổi xe, T1 điều khiển xe Lifan đẩy Đ ngồi trên xe Exciter đến tiệm sửa xe trên đường H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thay ổ khóa xe hết 600.000 đồng. T1 đưa Đ số tiền còn dư sau khi thay ổ khóa xe là 1.282.000 đồng. Đ chia cho T1 250.000 đồng. T1 nhận tiền và điều khiển xe Lifan biển số 67AE-053.99 ra về. Số tiền này T1 tiêu xài cá nhân hết. Đ mang xe Exciter biển số 86X1-6766 về để sử dụng.

Ông Nguyễn Quang T2 phát hiện bị mất xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 86X1-6766, ngày 15/4/2024 đến Công an phường P trình báo. Ngày 21/4/2024, Đ và T1 được mời về trụ sở Công an để làm việc. Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Đ và T1 khai nhận hành vi phạm tội.

Vật chứng vụ án:

Thu giữ của Lý Thành Đ xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 86X1-6766.

Thu giữ của Phạm Hữu Anh T1 xe gắn máy hiệu Lifan biển số 67AE-053.99.

Kết luận định giá tài sản số 119/KL-HĐĐGTTHS ngày 26/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận G kết luận: Xe máy hiệu Yamaha Exciter biển số 86X1-6766, đăng ký lần đầu tháng 3/2010, có giá trị 35.000.000 đồng.

Cáo trạng số 126/CT-VKSQ7 ngày 14/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố Lý Thành Đ, Phạm Hữu Anh T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Lý Thành Đ, Phạm Hữu Anh T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 101 Bộ luật Hình sự; Xử phạt Lý Thành Đ từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù.

Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Xử phạt Phạm Hữu Anh T1 từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.

Đề nghị xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu sung quỹ Nhà nước xe gắn máy hiệu Lifan biển số 67AE-053.99.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên đề nghị không xét.

Tại phiên tòa, Lý Thành Đ, Phạm Hữu Anh T1 khai nhận hành vi trộm cắp tài sản là xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter biển số 86X1-6766 như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố. Lý Thành Đ, Phạm Hữu Anh T1 không tự bào chữa, không tranh luận, thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

Luật sư bào chữa cho Lý Thành Đ, Phạm Hữu Anh T1 trình bày: Thống nhất với Cáo trạng số 126/CT-VKSQ7 ngày 14/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố Lý Thành Đ, Phạm Hữu A về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Lý Thành Đ, Phạm Hữu A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại, chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s, h Khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự áp dụng hình phạt án treo cho các bị cáo.

- Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

- Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, luật sư.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và hình phạt: Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 119/KL-HĐĐGTTHS ngày 26/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận G. Căn cứ lời khai nhận tội của Lý Thành Đ, Phạm Hữu Anh T1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án, xét có đủ cơ sở để kết luận: Các bị cáo Lý Thành Đ, Phạm Hữu Anh T1 đã lén lút chiếm đoạt tài sản là xe máy hiệu Yamaha Exciter biển số 86X1-6766 có giá trị 35.000.000 (Ba mươi lăm triệu) đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét các bị cáo đã có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, biết rõ trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Vì động cơ, mục đích tham lam, tư lợi, lười lao động. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, đã xâm hại trực tiếp đến tài sản sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn ở địa phương, cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục cải tạo riêng và ngăn ngừa chung trong xã hội.

[4] Trong vụ án này, bị cáo Đ rủ rê T1 trộm cắp tài sản. T1 sử dụng xe gắn máy làm phương tiện cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo Đ và T1 là đồng phạm có tính chất giản đơn.

[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[6] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Lý Thành Đ, Phạm Hữu Anh T1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trong nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho Lý Thành Đ, Phạm Hữu Anh T1.

[7] Lý Thành Đ khi phạm tội 17 tuổi 10 tháng 27 ngày, Phạm Hữu Anh T1 khi phạm tội 16 tuổi 05 tháng 23 ngày, nên khi lượng hình Hội đồng xét xử đã xem xét áp dụng quy định pháp luật về mức án nhẹ hơn cho bị cáo là người phạm tội dưới 18 tuổi. Ngoài ra, Hội đồng xét xử đã xem xét các tình tiết: Lý Thành Đ, Phạm Hữu Anh T1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, hoàn cảnh gia đình, thiếu sự quan tâm giáo dục từ cha mẹ và gia đình, các bị cáo tuổi còn trẻ, trình độ học vấn thấp, nhận thức về pháp luật và xã hội còn hạn chế, phạm tội do nông nổi thiếu suy nghĩ, tài sản đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu, để áp dụng quy định pháp luật về mức án nhẹ hơn cho các bị cáo theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[8] Bị cáo Lý Thành Đ rủ Phạm Hữu Anh T1, sinh ngày 21/10/2006 đi trộm cắp xe gắn máy, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Phạm Hữu Anh T1 16 tuổi 05 tháng 23 ngày nên bị cáo Lý Thành Đ phạm tội thuộc trường hợp xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm o Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[9] Xét các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, chưa có tiền án tiền sự, tuy nhiên do các bị cáo đều không có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên không đủ điều kiện áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự áp dụng hình phạt án treo cho các bị cáo, do đó lời đề nghị của luật sư bào chữa cho các bị cáo không có cơ sở chấp nhận.

[10] Đối với Phan Nguyễn Hải Y là bảo vệ trực máy gác cổng kiểm soát xe ra vào hầm chung cư, khi Phạm Hữu Anh T1 lấy trộm xe dắt xe qua cổng kiểm soát, T1 báo xe mất chìa khoá, Y đã thực hiện theo đúng quy định của Công ty B Thống Nhất là đối chiếu thông tin về đặc điểm, biển số xe thấy đúng thông tin và đặc điểm, biển số xe nên giải quyết cho xe ra, Y không biết các bị cáo trộm cắp xe. Ông Nguyễn Công K là người sửa xe thay ổ khoá cũng không biết xe do các bị cáo trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với Phan Nguyễn Hải Y, ông Nguyễn Công K là có căn cứ.

[11] Xử lý vật chứng: Tài sản bị chiếm đoạt là xe gắn máy hiệu Yamaha Exciter, màu trắng đỏ đen, biển số 86X1-6766, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu hồi trả lại cho bị hại nên không xét. Xe gắn máy hiệu Lifan, biển số 67AE-053.99, số khung: RLGC8UL1001048, số máy: RL8139FMBY2SL411048 thu giữ của Phạm Hữu Anh T1. Xe do bà Lê Thị P đứng tên chủ xe. Năm 2023, bà P bán xe cho Phạm Hữu Anh T1, không làm thủ tục sang tên. Phạm Hữu Anh T1 sử dụng xe làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[12] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác về dân sự, tại phiên tòa vắng mặt nên Hội đồng xét xử không xét.

[14] Về án phí: Lý Thành Đ là người bị kết án nên phải chịu án phí án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Phạm Hữu Anh T1 là người bị kết án, nhưng đến thời điểm xét xử Phạm Hữu Anh T1 16 tuổi 11 tháng 05 ngày, nên được miễn án phí hình sự sợ thẩm theo quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lý Thành Đ, Phạm Hữu Anh T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm o Khoản 1 Điều 52, Điều 90, Điều 91; Điều 98; Điều 101, Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Lý Thành Đ 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

2. Áp dụng các Khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 90, Điều 91; Điều 98; Điều 101, Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Phạm Hữu Anh T1 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt Phạm Hữu Anh T1 chấp hành án.

3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu sung quỹ Nhà nước xe gắn máy hiệu Lifan, biển số 67AE-053.99, số khung: RLGC8UL1001048, số máy: RL8139FMBY2SL411048.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 128 ngày 12/8/2024).

4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Phạm Hữu Anh T1 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Lý Thành Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

6. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND TP HCM; (1)
  • - Sở Tư pháp TP HCM (1)
  • - VKSND Quận 7; (2)
  • - Công an Quận 7; (1)
  • - Chi cục THADS Quận 7; (1)
  • - Bị cáo (2)
  • - Người tham gia tố tụng khác; (2)
  • - THAHS (10)
  • - Lưu án, VP, Hs... (TK Đức) (6)
  • (25)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Lê Thị Phơ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 147/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 147/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly Thanh Đ & ĐB
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger