1
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ TỈNH HÀ NAM Bản án số: 147/2024/HS-ST Ngày 20 - 9 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quang Man và bà Lê Thị Tuyết Thanh.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Vũ Bá Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 131/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Vũ Văn C, sinh năm 1983 tại Hà Nam; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố T, phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam; chỗ ở: Tổ dân phố H, phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn K và bà Vũ Thị H; vợ: Lại Thị T; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 21/4/2020, Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/6/2024, chuyển tạm giam từ ngày 20/6/2024 đến nay; có mặt.
Người làm chứng: Anh Phạm Văn Đ, sinh năm 1990; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 14/6/2024, Vũ Văn C đi bộ từ nhà ra đường rồi đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết đến khu vực cầu vượt L, mục đích để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến cầu vượt L thuộc xã L, thành phố P, C xuống xe đi bộ một đoạn thì gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch), C tiến lại gần và hỏi “Có biết chỗ nào lấy đồ không, lấy hộ em năm trăm”, người đàn ông trả lời “Đưa tiền đây tao đi lấy cho”. C đưa 500.000 đồng cho người đàn ông, người này cầm tiền rồi bảo C đứng đợi và điều khiển xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) đi đâu khoảng 15 phút sau quay lại đưa cho C 01 gói giấy bạc màu vàng và nói “Hàng đây” rồi điều khiển xe mô tô đi. Biết bên trong gói giấy bạc có
2
ma túy nên C không mở ra kiểm tra mà cất vào trong túi quần bên phải đang mặc. Sau đó C thuê xe ôm của một người đàn ông không quen biết chở về gần đến nhà thì xuống đi bộ về. Khi C đang đi bộ trên đường Đ thuộc tổ dân phố T, phường C, thành phố P thì bị lực lượng Công an phường C yêu cầu kiểm tra. C đã tự giác giao nộp cho lực lượng Công an 01 gói giấy bạc màu vàng, kiểm tra bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục và C đã khai nhận là ma túy mục đích cất giữ để sử dụng. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định.
* Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy bạc màu vàng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01.
Ngày 15/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phủ Lý đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Văn C tại tổ dân phố H, phường C, thành phố P. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án.
Tại bản Kết luận giám định số 438/KL-KTHS, ngày 19/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,168g, loại Heroine".
* Tại bản cáo trạng số 134/CT-VKS-PL ngày 14/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố Vũ Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như đã nêu trong bản cáo trạng, không thay đổi, bổ sung gì. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX):
+ Tuyên bố bị cáo Vũ Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Văn C từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
+ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy được hoàn trả sau giám định cùng toàn bộ bao gói.
+ Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì. Lời nói sau cùng tại phiên tòa bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
3
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.
[3] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác đã thu thập trong hồ sơ của vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 14/6/2024, tại khu vực tổ dân phố T, phường C, thành phố P, Vũ Văn C đang cất giữ trái phép 0,168 gam ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an phường C, thành phố P phát hiện, bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị Tòa án xử phạt tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có thời gian tham gia quân đội; bố mẹ đẻ bị cáo là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công, Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[5] Về hình phạt:
Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an trong xã hội và là nguyên nhân phát sinh nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác. Vì vậy, việc xét xử nghiêm minh hành vi phạm tội này là cần thiết, với mức hình phạt tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị cáo đã
4
thực hiện. Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh, phòng chống tội phạm chung trong cộng đồng.
- Hình phạt bổ sung: Xét mục đích bị cáo tàng trữ ma túy là để sử dụng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về tình tiết khác của vụ án:
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Vũ Văn C. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phủ Lý đã phối hợp cùng Công an phường C, thành phố P xác minh nhưng không xác định được nhân thân lai lịch của người này. Ngoài lời khai của bị cáo không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ để xử lý trong vụ án này.
[7] Về xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy loại Heroine cùng toàn bộ bao gói hoàn trả sau giám định được niêm phong trong phong bì số 438/KTHS là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo thực hiện theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ các Điều 106, 135, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Luật Phí và Lệ phí của Quốc hội.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Tuyên bố bị cáo Vũ Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2/ Xử phạt bị cáo Vũ Văn C 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14 tháng 6 năm 2024.
3/ Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01” số: 438/KTHS.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 16/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phủ Lý với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý).
4/ Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Vũ Văn C phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự;
5
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Kim Ngân |
Bản án số 147/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 147/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn C - Tàng trữ trái phép chất ma túy
