Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 147/2024/HS-ST

Ngày : 30/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Lan Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Huỳnh Thị Quỳnh Hoa

2/ Bà Phạm Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lâm Như Quỳnh - Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 133/2024/HSST ngày 09 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

ĐỖ HỮU HUY H;

sinh năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: 146/39/5 T, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 1 T, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp:Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đỗ Hữu H1 (đã chết) và bà: Đỗ Thị Đ (đã chết); anh, chị: Đỗ Thị Thảo H2, sinh năm 1987 và Đỗ Hữu Quốc H3, sinh năm 1989; vợ, con: Không; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 23/11/2022, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo bản án số 525/HSST; Nhân thân: Ngày 26/8/2005, bị Ủy ban nhân dân quận G ra Quyết định đưa vào Trường G, tỉnh Đồng Nai về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; Ngày 19/5/2008, bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 63/HSST; Ngày 28/6/2013, bị Công an quận P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”; Ngày 19/11/2015, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 704/PT; Ngày 21/7/2017, bị Tòa án nhân dân Quận 12 xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 128/HSST; Ngày 03/5/2024, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 184/2024/HS-ST; Bị can đang chấp hành án tại Trại giam L theo Bản án số 184/2024/HS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức về tội “Trộm cắp tài sản” (Có mặt).

Bị hại:

  1. Bà Lê Thái Nhã U, sinh năm 2002; Địa chỉ: 3 N, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;
  2. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

  3. Bà Văn Thị Thảo Y, sinh năm 1987; Địa chỉ: 3 N, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có nghề nghiệp, cần tiền tiêu xài nên Đỗ Hữu Huy H rủ H4 (chưa rõ lai lịch) đi tìm nhà có tài sản sơ hở để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bán kiếm tiền chia nhau tiêu xài.

Khoảng 01 giờ ngày 20/11/2023, H điều khiển xe Honda Sh, biển số 59D1-132.80 của H4 chở H4 đi tìm nhà có tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, khi đến hẻm C Nguyễn Trọng Tuyển P, quận T, H phát hiện nhà số C N, Phường B, quận T có cửa sổ bằng nhôm, kính dễ đột nhập, H dừng xe để H4 ở ngoài cảnh giới, H treo lên bờ tường vào trong nhà và dùng thanh kim loại mang theo “cạy” cửa sổ tầng 1, đột nhập vào trong nhà, H trộm cắp được 01 điện thoại di động iPhone 7 tại tầng 1. Sau đó H di chuyển xuống tầng trệt, tại đây H phát hiện 03 xe máy có cắm sẵn chìa khóa, Hoàng bật công tắc cửa cuốn, trộm cắp 01 xe máy Honda Sh150i, biển số 52T1-6868 và điều khiển xe vừa trộm được về cất giấu tại nhà H tại địa chỉ 1 T, Phường C, quận G, Hồng điều khiển xe máy Honda Sh, biển số 59D1-132.80 của H4 theo sau. Sau khi cất xe máy vừa trộm cắp được, H và H4 tiếp tục quay lại nhà số 340/DH trộm xe máy hiệu Kymco, biển số: 71AA-174.62, H điều khiển xe máy hiệu Kymco, biển số: 71AA-174.62 đến chung cư S trên đường P, quận G giao xe cho “Toàn” (chưa rõ lai lịch) để mang đi tiêu thụ, sau khi giao xe cho “Toàn”, H tiếp tục quay lại nhà 340/DH trộm cắp thêm xe máy hiệu Honda SH mode, biển số 59V2-013.68. Nhằm tránh bị phát hiện hành vi phạm tội, H điều khiển xe máy biển số 52T1-6868 đến gửi tại Bệnh viện G1 và xe máy Honda SH mode, biển số 59V2-013.68 đến gửi tại chung cư D N, quận G. Ngày 20/11/2023, H đến bệnh viện G1 và chung cư 489 Nguyễn Văn C lấy 02 xe máy trên giao cho “Toàn” mang đi tiêu thụ, sau đó T đưa cho H 17.000.000 đồng tiền bán 03 xe máy trên, H chia cho H4 5.000.000 đồng và 01 điện thoại di động iPhone 7, số tiền còn lại H đã tiêu xài hết.

Kết quả xác minh biển số: 59D1-132.80 của xe máy Honda Sh của đối tượng H4, kết quả: biển số xe trên được cấp cho xe gắn máy Honda Lead, chủ sở hữu hợp pháp là anh Võ Phạm K, anh K trình bày anh K đã bán lại xe máy trên vào tháng 12/2021 cho người đàn ông (chưa rõ lai lịch), không viết giấy tờ mua bán, không làm thủ tục chuyển quyền sở hữu đối với xe máy trên.

Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Hữu Huy H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng:

  • - 01 xe máy Honda Shi, biển số: 52T1-6868, xác minh chủ sở hữu hợp pháp là chị Văn Tuyết A (chị của Văn Thị Thảo Y), chị Tuyết A giao xe cho em gái là Thảo Y sử dụng vào năm 2006, xe máy trên có biển số thật là 52T6-2719, chị Y trình bày do quá trình sử dụng biển số thật bị rơi nên gắn biển số trên để sử dụng, đối với biển số 52T1-6868 chị Y trình bày, chị Y nhặt được trên đường L, quận T;
  • - 01 xe máy Honda SH mode, biển số 59V2-013.68, xác minh chị Văn Thị Thảo Y là chủ sở hữu hợp pháp;
  • - 01 xe máy hiệu Kymco, biển số 71AA-174.62, kết quả xác minh xe máy do chị Lê Thái Nhã U là chủ sở hữu hợp pháp;

Ba xe máy bị chiếm đoạt nêu trên hiện chưa thu hồi được, Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm vật chứng.

Kết quả định giá tài sản tại Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận T, tại Bản kết luận số 32/KL-HDĐGTS ngày 23/4/2024, kết luận: 01 xe máy Honda SH mode, biển số 59V2-013.68, trị giá 34.800.000 đồng; 01 xe máy Kymco, biển số 71AA-174.6201, trị giá 8.000.000 đồng; 01 xe máy Honda SH150i, biển số 52T6-2719, trị giá 51.500.000 đồng. Tại Bản kết luận số 35/KL-HDĐGTS ngày 26/4/2024, kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 7 trị giá 1.850.000 đồng; 01 mũ bảo hiểm xe đạp trị giá 100.000 đồng. Tổng cộng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 96.250.000 đồng.

  • - 01 đôi dép cao su màu đen có chữ DUWA FASHION, 01 cây kiềm, 01 đầu cắm điện màu đen dài khoảng 15cm được bỏ trong hộp giấy, bên ngoài có chữ ký của Đỗ Hữu Huy H và hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T.
  • - 01 USB ghi nhận hiện trường vụ án (lưu hồ sơ).

Phần dân sự:

  • - Chị Văn Thị Thảo Y có yêu cầu Đỗ Hữu Huy H bồi thường số tiền 92.100.000 đồng đối với các tài sản bị trộm gồm: 01 xe máy Honda SH150i, biển số 52T6-2719 có giá 60.000.000 đồng; 01 xe máy Honda SH mode, biển số: 59V2-013.68 có giá 30.000.000 đồng; 01 điện thoại di động iPhone 7 có giá 2.000.000 đồng và 01 mũ bảo hiểm có giá 100.000 đồng. Ngoài ra thì chị Y không còn yêu cầu gì khác.
  • - Chị Lê Thái Nhã U có yêu cầu Đỗ Hữu Huy H bồi thường số tiền 15.000.000 đồng đối với tài sản bị trộm là xe máy hiệu Kymco, biển số 71AA-174.62. Ngoài ra thì chị U không còn yêu cầu gì khác.

Tại bản cáo trạng số 139/CT-VKS-TB ngày 08 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Đỗ Hữu Huy H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Đỗ Hữu Huy H từ 03 (Ba) năm đến 04 (B) năm tù, đề nghị tổng hợp hình phạt 01 năm 06 tháng tù tại bản án số 184/2024/HS-ST ngày 03/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Đỗ Hữu Huy H có nghĩa vụ bồi thường cho chị Văn Thị Thảo Y số tiền tương đương trị giá các tài sản bị trộm được ghi nhận trong Bản kết luận số 32/KL-HĐĐGTS ngày 23/4/2024 và Bản kết luận số 35/KL-HĐĐGTS ngày 26/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận T là 88.250.000 đồng.

Bị cáo Đỗ Hữu Huy H có nghĩa vụ bồi thường cho chị Lê Thái Nhã U số tiền tương đương trị giá các tài sản bị trộm được ghi nhận trong Bản kết luận số 32/KL-HĐĐGTS ngày 23/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận T là 8.000.000 đồng.

- Sau phần luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận, tranh tụng với Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhằm giúp cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện quá trình điều tra, truy tố bị cáo Đỗ Hữu Huy H về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, thẩm tra các tài liệu, chứng cứ, luận tội, tranh tụng; nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, bị hại, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo Đỗ Hữu Huy H phù hợp với bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe máy Honda SH mode, biển số: 59V2-013.68; 01 xe máy Honda SH150i; biển số 52T6-2719; 01 điện thoại di động Iphone 7; 01 mũ bảo hiểm của chị Văn Thị Thảo Y và 01 xe máy Kymco, biến số 71AA-174.62 của chị Lê Thái Nhã U. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là: 96.250.000 đồng trong khoảng thời gian từ 03 giờ 00 phút đến 06 giờ 00 phút ngày 20/11/2023, tại địa chỉ 3 N, Phường B, quận T, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu, quản lý tài sản hợp pháp của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác bị pháp luật ngăn cấm và bị trừng trị nhưng do động cơ tham lam, lười lao động nên bị cáo đã cố tình thực hiện tội phạm, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Đối với đối tượng “Hồng” và “T”, quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét, làm rõ, xử lý sau.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết giảm nhẹ:

Hội đồng xét xử xem xét tình tiết: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Về tính tiết tăng nặng:

Bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” khi đang có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội lần này thuộc trường hợp “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo thực hiện hành vi “Phạm tội 02 lần trở lên” thuộc trường hợp quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Hồ sơ vụ án thể hiện, chị Văn Thị Thảo Y có yêu cầu Đỗ Hữu Huy H bồi thường số tiền 92.100.000 đồng, chị Lê Thái Nhã U yêu cầu Đỗ Hữu Huy H bồi thường số tiền 15.000.000 đồng đối với các tài sản bị trộm. Căn cứ vào Bản kết luận số 32/KL-HĐĐGTS ngày 23/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận T đối với các tài sản bị trộm gồm: 01 xe máy Honda Shi - biển số 52T6-2719 trị giá 51.500.000 đồng; 01 xe máy Honda SH mode - biển số: 59V2-013.68 trị giá 34.800.000 đồng; 01 điện thoại iPhone 7 trị giá 1.850.000 đồng và 01 mũ bảo hiểm trị giá 100.000 đồng (tất cả các tài sản này của chị Y tổng trị giá 88.250.000 đồng) và 01 xe máy hiệu Kymco - biển số 71AA-174.62 (là tài sản của chị U) trị giá 8.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo H chỉ đồng ý bồi thường trách nhiệm dân sự cho các bị hại theo giá trị do Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận T đưa ra, không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của các bị hại.

Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của các bị hại về việc yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền vượt quá giá trị đã được định giá và không có chứng cứ chứng minh cho phần giá trị chênh lệch là phù hợp với quy định pháp luật, tại phiên tòa bị cáo không đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, nên ý kiến của các bị hại về số tiền buộc bị cáo phải bồi thường không có cơ sở nên không được chấp nhận.

Theo đó, trách nhiệm dân sự bị cáo được xác định như sau:

  • - Đỗ Hữu Huy H có nghĩa vụ bồi thường số tiền 88.250.000 (T1 mươi tám triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng cho chị Văn Thị Thảo Y theo Bản kết luận số 32/KL-HĐĐGTS ngày 23/4/2024 và Bản kết luận số 35/KL-HĐĐGTS ngày 26/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận T là 88.250.000 đồng đối với các tài sản bị trộm gồm: 01 xe máy Honda Shi, biển số 52T6-2719 trị giá 51.500.000 đồng; 01 xe máy Honda SH mode, biển số: 59V2-013.68 trị giá 34.800.000 đồng; 01 điện thoại di động iPhone 7 trị giá 1.850.000 đồng và 01 mũ bảo hiểm trị giá 100.000 đồng.
  • - Đỗ Hữu Huy H có nghĩa vụ bồi thường số tiền 8.000.000 (Tám triệu) đồng cho chị Lê Thái Nhã U theo Bản kết luận số 32/KL-HĐĐGTS ngày 23/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự quận T là 8.000.000 đồng đối với tài sản bị trộm là xe máy hiệu Kymco, biển số 71AA-174.62.

[5] Về vật chứng vụ án:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đôi dép cao su màu đen có chữ DUWA FASHION; 01 (một) cây kiềm; 01 (một) đầu cắm điện màu đen dài khoảng 15 cm được bỏ trong hộp giấy, bên ngoài có chữ ký của Đỗ Hữu Huy H và hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T.
  • - Đối với 01 USB ghi nhận hiện trường vụ án đang được lưu giữ trong hồ sơ vụ án cần tiếp tục lưu giữ cùng hồ sơ.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 56; điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[1] Tuyên bố:

Bị cáo Đỗ Hữu Huy H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Hữu Huy H 3 (Ba) năm tù.

Tổng hợp với hình phạt 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù của Bản án số 184/2024/HS-ST ngày 03/5/2024 do Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử bị cáo Đỗ Hữu Huy H về tội “Trộm cắp tài sản”.

Buộc bị cáo Đỗ Hữu Huy H chấp hành hình phạt chung là 4 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 12/12/2023.

[2] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Đỗ Hữu Huy H có nghĩa vụ bồi thường số tiền 88.250.000 (T1 mươi tám triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng cho chị Văn Thị Thảo Y.
  • - Đỗ Hữu Huy H có nghĩa vụ bồi thường số tiền 8.000.000 (Tám triệu) đồng cho chị Lê Thái Nhã U.

[3] Xử lý vật chứng của vụ án – Thi hành theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 146/BB/2024 ngày 22/7/2024 giữa Công an quận T và Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Bình – cụ thể:

  • - Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) đôi dép cao su màu đen có chữ DUWA FASHION; 01 (một) cây kiềm; 01 (một) đầu cắm điện màu đen dài khoảng 15 cm được bỏ trong hộp giấy, bên ngoài có chữ ký của Đỗ Hữu Huy H và hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T.
  • - Đối với 01 USB ghi nhận hiện trường vụ án đang được lưu giữ trong hồ sơ vụ án cần tiếp tục lưu giữ cùng hồ sơ.

[4] Án phí:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Đỗ Hữu Huy H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Án phí dân sự sơ thẩm dựa trên số tiền bị cáo Đỗ Hữu Huy H phải bồi thường cho bị hại: Bị cáo Đỗ Hữu Huy H phải chịu 4.812.500 (Bốn triệu tám trăm mười hai nghìn năm trăm) đồng.

[4] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Người ĐDHP bị hại;
  • - Người có QL,NV liên quan;
  • - Công an quận Tân Bình;
  • - VKSND quận Tân Bình;
  • - Chi cục THADS quận Tân Bình;
  • - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng HSNVCS CA Tp. HCM;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Lan Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 147/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 147/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đỗ Hữu Huy H phạm tội “Trộm cắp tài sån”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger