|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 147/2024/HS-PT Ngày 25 tháng 9 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Lâm Thuận Tùng
Các Thẩm phán: ông Lê Thanh Hoàng và ông Trương Văn Hai.
- Thư ký phiên tòa:
ông Bùi Hữu Phước – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
ông Đinh Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 24 và 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 233/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo Phạm Văn P và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HSST, ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Phạm Văn P (còn có tên khác là Phúc Đ), sinh năm 1987 tại An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm vườn; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hồng Đ1 và bà Nguyễn Thị T; vợ là: Nguyễn Thị Kim C; có 02 người con. Nhân thân: Ngày 22/12/2019, bị Ủy ban nhân dân huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 7.500.000 đồng, về hành vi “Tổ chức đánh bạc trái phép”, đã nộp phạt xong. Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo đang bị tạm giam từ ngày 02/6/2023 đến nay.
2. Nguyễn Thị Thu D, sinh năm 1977, tại An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: mua bán; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Phạm Thị P1; chồng: Nguyễn Văn V và có 02 con; tiền án: không.
Tiền sự: Ngày 25/02/2022, bị Công an xã L, huyên C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc trái phép”, đã nộp phạt xong.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/5/2023 đến nay.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thu D: Ông Lương Minh H – Trợ giúp viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh A.
3. Lê Kim H1, sinh năm 1961, tại An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: mua bán; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Thị K; chồng: Lê Ngọc T2 và có 01 người con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/11/2023 đến nay.
4. Nguyễn Kim E, sinh năm 1972 tại An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Ấp Thị, xã M, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: mua bán; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N1 và bà Đặng Thị T3; chồng: Nguyễn Quốc Q; con: Nguyễn Thanh T4; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo Nguyễn Kim E bị tạm giam từ ngày 02/6/2023 đến ngày 03/10/2023; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/10/2023 đến nay.
5. Nguyễn Thị Hồng N2, sinh năm 1973, tại An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P2 và bà Lê Thị N3; chồng: Nguyễn Văn K1; con: Nguyễn Văn T5; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 05/6/2023 đến ngày 16/6/2023, được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay.
6. Nguyễn Ngọc Y, sinh năm 1999, tại tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc M và bà Nguyễn Thị M1; chồng: Nguyễn Tiến D1; con: Nguyễn Thanh A; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơ cư trú từ ngày 25/5/2023 đến nay.
7. Lâm Thị N4, sinh năm 1968, tại An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con
ông Lâm Văn D2 và bà Nguyễn Thị B; chồng: Huỳnh Văn R và có 3 người con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo Lâm Thị N4 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/11/2023 đến nay.
8. Phạm Thị D3, sinh năm 1973, tại An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hồng Đ1 và bà Nguyễn Thị T; chồng: Phạm Văn T6; con: Không; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo Phạm Thị D3 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra từ ngày 07/11/2023 đến nay.
9. Trần Thị M2, sinh năm 1966, tại Đồng Tháp; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T7 và bà Võ Thị N5; chồng: Phạm Hữu T8 và có 02 người con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/11/2023 đến nay.
10. Nguyễn Thị Kim S, sinh năm 1966, tại An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh Q1 và bà Lê Thị P3; chồng: Cao Minh T9 và có 02 người con; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/11/2023 đến nay.
11. Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1999, tại An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc E1 và bà Đặng Thị Bích T10; vợ là: Trần Thị Thúy V1; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/11/2023 đến nay.
Do có kháng cáo của các bị cáo: Phạm Văn P, Nguyễn Thị Thu D, Lê Kim H1, Nguyễn Kim E, Nguyễn Thị Hồng N2, Nguyễn Ngọc Y, Lâm Thị N4, Phạm Thị D3, Trần Thị M2, Nguyễn Thị Kim S, Nguyễn Ngọc H2.
Trong vụ án còn có những người tham gia tố tụng khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo kháng cáo có mặt. Khi tuyên án vắng mặt bị cáo Phạm Văn P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ ngày 24/10/2022, Phòng C1 - Công an tỉnh A và Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C kết hợp kiểm tra, phát hiện Phạm Văn P, Lê Thị Thảo T11, Nguyễn Kim E, Nguyễn Thị Hồng N2, Nguyễn Ngọc Y, Nguyễn Thị Thu D, Đinh Thế T12 và nhiều người khác (chưa rõ họ tên, địa chỉ) tham gia đánh bạc bằng hình thức lắc tài xỉu được thua bằng tiền tại khu vực vườn xoài của ông Phạm Văn H3 thuộc ấp B, xã B, nên lực lượng chức năng tiến hành mời các đối tượng về trụ sở Công an huyện C làm việc.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 24/10/2022, P đến vườn xoài của ông H3 trải tấm bạc nylon dưới đất để tổ chức cho nhiều người tham gia đánh bạc bằng hình thức lắc tài xỉu được thua bằng tiền, để thu lợi từ việc nhận tiền bão (chia đôi với người làm cái). Ca làm cái thời gian từ 11 giờ 30 phút đến trước 12 giờ 30 phút, P cho người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) làm cái và người nữ (không rõ họ tên, địa chỉ) làm vĩ lắc tài xỉu cho Hồ Văn T13, Nguyễn Văn D4, Nguyễn Phúc E2 và nhiều người (chưa rõ họ tên, địa chỉ) đặt cược. Trong đó, có 02 ván bão bên xỉu thắng bên tài được 1.400.000 đồng, người thanh niên làm cái chia cho P 700.000 đồng, rồi kết thúc ca làm cái. Đến 12 giờ 30 phút, P cho Đặng Hữu M3 T14 làm cái, Đinh Thế T12 làm vĩ lắc tài xỉu cho Trần Thị M2, Lâm Thị N4, Nguyễn Thành Đ2, Phạm Thị D3, Trần Văn P4, Nguyễn Ngọc H2, Nguyễn Thị Kim S, Lê Kim H1, Lê Thị Thảo T11, Nguyễn Kim E, Nguyễn Thị Hồng N2, Nguyễn Ngọc Y, Nguyễn Thị Thu D tham gia đặt cược. Đến khoảng 13 giờ, khi T14 đang làm cái lắc tài xỉu cho Nguyễn Thị Thu D đặt cược 2.000.000 đồng, Nguyễn Kim E đặt cược 100.000 đồng, Nguyễn Thị Hồng N2 đặt cược 100.000 đồng, Nguyễn Ngọc Y đặt cược 100.000 đồng, Lê Thị Thảo T11 đặt cược 50.000 đồng và nhiều người khác (chưa rõ họ tên, địa chỉ) đặt cược, thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.
* Vật chứng thu giữ: Tiền mặt 45.100.000 đồng. Trong đó, tiền dùng đánh bạc 6.100.000 đồng (thu tại chiếu bạc 5.550.000 đồng, của T11 50.000 đồng, P4 200.000 đồng, Phạm Thị D3 300.000 đồng); không dùng đánh bạc 39.000.000 đồng (gồm: thu trên người T12 2.600.000 đồng; thu trong xe ô tô biển số 60A-893.02 của T12 29.500.000 đồng, của T14 6.900.000 đồng); 03 tấm bạc nylon, 05 cái chén, 01 cái dĩa, 02 cái nắp nhựa, 01 quyển tập, 02 gói thuốc lá nhãn hiệu Jet, 36 cái ghế nhựa, 01 căn cước công dân và giấy phép lái xe mang tên Đặng Hữu Minh T14, 01 tờ giấy biên nhận thế chấp, 05 điện thoại di động, 01 xe ô tô biển số 60A-893.02 và 12 xe mô tô các loại.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2024/HSST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn P phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; các bị cáo Nguyễn Thị Thu D, Lê Kim H1, Nguyễn Kim E, Nguyễn Thị Hồng N2, Nguyễn Ngọc Y, Trần Thị M2, Lâm Thị N4, Phạm Thị D3, Nguyễn Thị Kim S, Nguyễn Ngọc H2 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Xử phạt:
- Bị cáo Phạm Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/6/2023.
- Bị cáo Nguyễn Thị Thu D 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Bị cáo Lê Kim H1 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Bị cáo Nguyễn Kim E 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 02/6/2023 đến ngày 03/10/2023.
- Bị cáo Nguyễn Thị Hồng N2 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 05/6/2023 đến ngày 16/6/2023.
- Bị cáo Nguyễn Ngọc Y 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Bị cáo Lâm Thị N4 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Bị cáo Phạm Thị D3 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Bị cáo Trần Thị M2 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Bị cáo Nguyễn Thị Kim S 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Bị cáo Nguyễn Ngọc H2 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, từ ngày 30/7 đến ngày 06/8/2024 bị cáo P kháng cáo xin giảm hình phạt; các bị cáo còn lại kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Văn P rút yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Các bị cáo Nguyễn Thị Thu D, Lê Kim H1, Nguyễn Kim E, Nguyễn Thị Hồng N2, Nguyễn Ngọc Y, Lâm Thị N4, Phạm Thị D3, Trần Thị M2, Nguyễn Thị Kim S, Nguyễn Ngọc H2 trình bày điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bệnh tật, đã ăn năn hối hận, mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện chăm sóc gia đình, sống lương thiện, không tái phạm, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang thực hành quyền công tố phát biểu trình bày quan điểm: Tại phiên tòa, bị cáo P rút kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo P. Đối với các bị cáo còn lại kháng cáo xin hưởng án treo. Xét thấy, bị cáo Nguyễn Thị Thu D nhân thân có tiền sự, không đủ điều kiện cho hưởng án treo; bị cáo tham gia đặt cược số tiền nhiều hơn các bị cáo khác
trong vụ án, nên đề nghị Hội đồng xét xử không cho bị cáo được hưởng án treo, đề nghị giảm cho bị cáo D từ 01 đến 02 tháng tù. Đối với các bị cáo còn lại lần đầu phạm tội; quá trình điều tra thật thà khai báo; tại phiên tòa phúc thẩm giữ nguyên kháng cáo xin hưởng án treo, các bị cáo cung cấp giấy xác nhận hoàn cảnh neo đơn, gia cảnh khó khăn; hầu hết các bị cáo ít nhiều trong người mắc bệnh; có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo cho các bị cáo được hưởng án treo, chấp hành hình phạt dưới sự giám sát của chính quyền địa phương. Vì vậy đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, khoản 1 Điều 355; điểm c, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, sửa bản án sơ thẩm: Giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Thị Thu D; áp dụng khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo Lê Kim H1, Nguyễn Kim E, Nguyễn Thị Hồng N2, Nguyễn Ngọc Y, Lâm Thị N4, Phạm Thị D3, Trần Thị M2, Nguyễn Thị Kim S, Nguyễn Ngọc H2 được hưởng án treo.
Trợ giúp viên pháp lý, ông Lương Minh H bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thu D thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh hiện tại mắt của bị cáo bị bệnh nặng không thấy đường, mọi sinh hoạt đều phải nhờ người thân trợ giúp; ngoài ra bị cáo cũng có nhiều tình tiết giảm nhẹ khác nên đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng cải tạo phòng ngừa.
Trong phần đối đáp, một lần nữa đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm đề nghị giảm án cho bị cáo do không đủ điều kiện cho hưởng án treo.
Các bị cáo không tranh luận gì; nói lời sau cùng mong Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định, đơn hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét và giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung: Quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, bị cáo Phạm Văn P và các bị cáo Nguyễn Thị Thu D, Lê Kim H1, Nguyễn Kim E, Nguyễn Thị Hồng N2, Nguyễn Ngọc Y, Lâm Thị N4, Phạm Thị D3, Trần Thị M2, Nguyễn Thị Kim S, Nguyễn Ngọc H2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với nhau, phù
hợp với lời khai của người có liên quan, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan, đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/10/2022, Phạm Văn P tổ chức cho nhiều người tham gia đánh bạc bằng hình thức lắc tài xỉu được thua bằng tiền để hưởng lợi từ việc cho các bị cáo T12, Kim E, N2, Y, Thu D, T11, M2, N4, Được, Thị D3, P4, H2, S, H1 thực hiện hành vi đánh bạc. Tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc xác định tại chiếu bạc là 5.550.000 đồng và số tiền 550.000 đồng của các bị cáo T11, Thị D3, P4 dùng để đánh bạc. Do dó, Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Phạm Văn P về tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 322; các bị cáo Nguyễn Thị Thu D, Lê Kim H1, Nguyễn Kim E, Nguyễn Thị Hồng N2, Nguyễn Ngọc Y, Lâm Thị N4, Phạm Thị D3, Trần Thị M2, Nguyễn Thị Kim S, Nguyễn Ngọc H2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Văn P rút kháng cáo. Căn cứ khoản 1, Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự đình chỉ xét xử đối với bị cáo.
[5] Đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu D, nhân thân có tiền sự, ngày 25/02/2022 bị Công an xã L, huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc trái phép”, bị cáo chấp hành nộp phạt xong nhưng không rút ra bài học bản thân mà tiếp tục thực hiện tội phạm, điều này chứng tỏ thái độ bất chấp, xem thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị của người bào chữa cho bị cáo được hưởng án treo là không có tác dụng sửa chữa, cải tạo bị cáo thành công dân sống lương thiện, nên Hội đồng xét xử giữ nguyên hình phạt án sơ thẩm đối với bị cáo.
[6] Đối với yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Lê Kim H1, Nguyễn Kim E, Nguyễn Thị Hồng N2, Nguyễn Ngọc Y, Lâm Thị N4, Phạm Thị D3, Trần Thị M2, Nguyễn Thị Kim S, Nguyễn Ngọc H2, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Đây cũng là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân, xử phạt các bị cáo từ 06 đến 07 tháng tù (từ mức khởi điểm trở lên của điều luật quy định) là có căn cứ, tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm của từng bị cáo đã gây ra.
Tuy nhiên, sau khi phạm tội các bị cáo nhận thức sai trái, tỏ rõ ăn năn hối cải; trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo; các bị cáo có xác nhận của chính quyền địa phương hoàn cảnh khó khăn về kinh tế; trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, điểm i khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, các bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ mà không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào, nếu không bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương. Đây là cơ hội để các bị cáo phấn đấu sửa chữa lỗi lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội. Như vậy, yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[8] Về án phí: Yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Lê Kim H1, Nguyễn Kim E, Nguyễn Thị Hồng N2, Nguyễn Ngọc Y, Lâm Thị N4, Phạm Thị D3, Trần Thị M2, Nguyễn Thị Kim S, Nguyễn Ngọc H2 được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thu D không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Phạm Văn P.
- Căn cứ vào điểm a, khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị Thu D. Giữ nguyên hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu D theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2024/HSST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu D phạm tội “Đánh bạc”. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu D 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Căn cứ vào điểm b, khoản 1 Điều 355; điểm c, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận nội dung đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Kim H1, Nguyễn Kim E, Nguyễn Thị Hồng N2, Nguyễn Ngọc Y, Lâm Thị N4, Phạm Thị D3, Trần Thị M2, Nguyễn Thị Kim S, Nguyễn Ngọc H2. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 56/2024/HSST ngày 26 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Kim H1, Nguyễn Kim E, Nguyễn Thị Hồng N2, Nguyễn Ngọc Y, Lâm Thị N4, Phạm Thị D3, Trần Thị M2, Nguyễn Thị Kim S, Nguyễn Ngọc H2 phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Kim H1 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách là 1 (Một) năm 02 (Hai) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Lê Kim H1 cho Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim E 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 1 (Một) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Kim E cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng N2 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 1 (Một) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thị Hồng N2 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Y 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 1 (Một) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Ngọc Y cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Thị M2 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 1 (Một) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Trần Thị M2 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lâm Thị N4 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 1 (Một) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Lâm Thị N4 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Phạm Thị D3 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 1 (Một) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Phạm Thị D3 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim S 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng
án treo. Thời gian thử thách là 1 (Một) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thị Kim S cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc H2 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 1 (Một) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Ngọc H2 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Kim H1 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo.
(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Lê Kim H1, Nguyễn Kim E, Nguyễn Thị Hồng N2, Nguyễn Ngọc Y, Lâm Thị N4, Phạm Thị D3, Trần Thị M2, Nguyễn Thị Kim S, Nguyễn Ngọc H2 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị cáo Nguyễn Thị Thu D phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thuận Tùng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lê Thanh Hoàng – Trương Văn Hai |
Lâm Thuận Tùng |
Bản án số 147/2024/HS-PT ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về hình sự (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)
- Số bản án: 147/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đánh bạc
