TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 147/2024/HS-PT
Ngày: 26/8/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA.
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà.
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Tố Như.
Ông Lê Văn Quân.
- Thư ký phiên tòa:
bà Đỗ Kim Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
ông Trần Huy Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 186/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn H và đồng phạm, do có kháng cáo của các bị cáo và kháng nghị của VKSND tỉnh Thanh Hóa đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2024/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.
Các bị cáo có kháng cáo, kháng nghị:
1/ Nguyễn Văn H - sinh năm 1977; SỐ CCCD: [...]; Nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: lao động tự do. Trình độ văn hóa: 9/12; Giới tính: nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D và bà Phùng Thị T (đều đã chết); Vợ: Trịnh Thị H1 - sinh năm 1977, có 03 con (con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2013).
Tiền án: Tại bản án HSST số 04/2020/HSST ngày 16/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm và phạt bổ sung 20.000.000₫ về tội “Đánh bạc”. Bị cáo chưa chấp hành nộp phạt.
Tiền sự: không.
Nhân thân: năm 2011 bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Bắt giữ hoặc giam giữ người trái pháp luật”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/11/2023 đến ngày 01/12/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Có mặt tại phiên tòa.
2/ Phạm Văn C - sinh năm 1989; Số CCCD: [...]; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: lao động tự do. Trình độ văn hóa: 9/12; Giới tính: nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn H2 - sinh năm 1963, con bà: Vũ Thị T1 - sinh năm 1962.
Tiền án: Tại bản án HSPT số 328/2014/HSPT ngày 23/6/2014 của Tòa phúc thẩm tại Hà Nội - TAND Tối cao xử phạt 14 năm tù về tội “Giết người”. Năm 2021 chấp hành xong bản án.
Tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/11/2023 đến ngày 29/12/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Bảo lĩnh”.
Có mặt tại phiên tòa.
3/ Vũ Thị G - sinh năm 1982; Số CCCD: [...]; Nơi cư trú: Thôn Q, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Giới tính: nữ, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vũ Đình C1 - sinh năm 1943, con bà Vũ Thị N (đã chết); Chồng: Lê Huy S - sinh năm 1977, có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2020).
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tại bản án HSST số 07/2021/HSST ngày 01/02/2021 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa xét xử về tội “Đánh bạc” bằng hình thức phạt tiền.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/11/2023 đến ngày 28/11/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Có mặt tại phiên tòa.
Bị cáo bị kháng nghị:
4/ Cao Xuân Q - sinh năm 1981; SỐ CCCD: [...]; Nơi cư trú: Thôn Q, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: lao động tự do. Trình độ văn hóa: 12/12; Giới tính: nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Cao Xuân N1 và bà Cao Thị C2 (đều đã chết); Vợ: Phạm Thị Y - sinh năm 1981, có 02 con (con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2008).
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tại bản án HSST số 35/2010/HSST ngày 05/10/2010 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án
treo, thời gian thử thách 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/12/2023 đến ngày 06/12/2023 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Có mặt tại phiên tòa.
Các bị cáo không có kháng cáo, kháng nghị: Nguyễn Văn M, Lê Thị H3, Nguyễn Thị H4, Mai Văn G1, Dương Khắc T2, Trương Xuân Đ Phạm Văn C3.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 22/11/2023, Phạm Văn C3 đem chiếu, bạt, cùng một số vật dụng khác đến đồi cao su thuộc thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa với mục đích tổ chức cho một số người khác đánh bạc để thu tiền.
Sau khi chuẩn bị xong địa điểm, C3 gọi điện thoại cho Vũ Thị G cùng một số người nữa rủ đến đánh bạc, đồng thời C3 gọi điện thoại cho Trương Xuân Đ bảo Đ đi xe ô tô đến đón G và một số người khác theo địa chỉ C3 gửi. Sau khi nhận điện thoại của C3, Đ đã đi xe ô tô nhãn hiệu ISUZU, BKS 36A-359.17 theo địa chỉ mà C3 gửi lần lượt đến đón G, H3, H4, Q, T2 và C3. Đ chở mọi người đến đồi cao su, địa điểm đánh bạc theo sự chỉ dẫn của C3. Khi đến gần địa điểm đánh bạc, C3 bảo Đ cho mọi người xuống xe đi bộ vào vị trí đánh bạc, còn Đ ở khu vực phía ngoài để canh gác.
Tại địa điểm mà C3 đã chuẩn bị để tổ chức cho mọi người đánh bạc có H2, Q, T2, H3, H4, G. Mọi người đã lấy bộ bài tú lơ khơ mà C3 đã chuẩn bị sẵn từ trước ra để đánh bạc với hình thức đánh ba cây cầm chương, thể thức đánh như sau: sử dụng 36 quân bài từ A (át) đến 9 trong bộ bài T3 lơ khơ (bài tây) 52 quân, người cầm chương chia cho mỗi người chơi 03 (ba) quân bài (người chơi có thể đặt cược tiền với người cầm chương trước hoặc sau khi chia bài). Sau khi chia bài xong thì mọi người lên bài, nếu người chơi có nước bài lớn hơn người cầm chương thì sẽ được tiền của người cầm chương bằng số tiền đã đặt cược, nếu được “mì” (tổng 20 nước bài hoặc 10 nước bài) thì sẽ được gấp đôi số tiền đã đặt cược với người cầm chương, nếu được “sáp” (ba quân bài cùng số) thì sẽ được gấp ba số tiền đã đặt cược với người cầm chương, nếu được “đồng hoa” (ba quân bài liên tiếp cùng chất với nhau) thì người chơi được gấp bốn số tiền đã đặt cược với người cầm chương. Ngược lại, nếu người chơi thấp nước bài hơn người cầm chương sẽ bị mất tiền với người cầm chương. Người chơi nào được “mì” sẽ được cầm chương ván tiếp theo. Khi mọi người chơi được một lúc thì có Mai Văn G1 đến và cũng vào tham gia đánh bạc; tiếp theo có Phạm Văn C, Nguyễn Văn M, Trịnh Đăng D1, Vũ Thị D2 đến. M và C vào tham gia đánh bạc, còn anh D1 và D2 ngồi ngoài xem.
Quá trình đánh bạc, C3 thu mỗi người chơi 200.000đ, được tổng số tiền 1.800.000₫ để trả tiền xe đưa đón và tiền chiếu. Ngoài ra, C3 còn nhờ H3 cắt 06 ván bài, mỗi ván được 200.000đ, tổng số tiền thu được là 1.200.000đ. Trong quá trình canh gác, Đ có việc riêng nên lấy xe ô tô đi về trước. Đến 22 giờ 00 phút cùng ngày khi Nguyễn Văn M, Lê Thị H3, Nguyễn Thị H4, Dương Khắc T2, Mai Văn G1, Cao Xuân Q, Phạm Văn C, Vũ Thị G, Nguyễn Văn H đang đánh bạc thì bị Công an huyện C phát hiện, bắt quả tang.
Trong quá trình bắt quả tang, G1, T2, Đ, Q, C3 đã bỏ trốn. Đến ngày 28/11 và ngày 01, 02, 03 và ngày 04/12/2023 lần lượt G1, T4, Đ, Q, C3 đã đến Công an huyện C xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc” ngày 22/11/2023.
Về vật chứng: 01 điện thoại Iphone 7 màu hồng; 01 điện thoại Iphone 8 màu trắng; 01 điện thoại Iphone X màu trắng; 01 điện thoại Iphone 12 promax màu vàng; 01 điện thoại Iphone 13 promax màu đen; 01 điện thoại Vivo Y22s màu xanh; 01 điện thoại OPPO màu đen; 01 điện thoại OPPO A92 màu xanh; 01 điện thoại SAMSUNG A32 màu vàng; 01 điện thoại SAMSUNG Galaxy A9 màu xanh; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ, đen, nâu, BKS 36K5-219.99; xe ô tô nhãn hiệu ISUZU BKS 36A-359.17 các bị cáo không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật tài liệu, trả lại cho Trịnh Đăng D1, Vũ Thị D2, Phạm Văn C, Vũ Thị G, Nguyễn Thị H4, Lê Thị H3, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn H, Mai Văn G1 và Cao Văn B là chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với 36 quân bài tú lơ khơ từ quân A (Át) đến quân 9 (chín); 12 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếu nhựa kích thước 1,8 x 4m; 01 thảm nỉ kích thước 2m x 3m; 01 bình ắc quy nhãn hiệu TROY, loại 12V-32Ah; 02 bóng đèn led nhãn hiệu KAWACHI 20W màu trắng, loại bóng kẹp bình ắc quy, bóng đèn có nối dây điện; 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen, số tiền 22.900.000₫ đã được niêm phong trong phong bì ký hiệu AT12/2023 và BT12/2023. Các vật chứng, đồ vật này được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Thủy chờ xử lý theo quy định pháp luật.
Tại Kết luận giám định số 4448/KL-KTHS ngày 08/12/2023 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: số tiền gửi giám định là tiền thật.
Đối với Trịnh Đăng D1 và Vũ Thị D2 đi cùng các bị cáo đến địa điểm đánh bạc và chỉ ngồi xem, không tham gia vào việc đánh bạc nên không có cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Trịnh Đăng D1 và Vũ Thị D2.
* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 22/2024/HSST ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:
Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Văn H, Phạm Văn C, Cao Xuân Q, Vũ Thị G phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ: khoản 1, khoản 3 Điều 321; khoản 2 Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS. Xử phạt: Nguyễn Văn H 12 tháng tù, được trừ 15 ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 11 tháng 15 ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000₫.
Căn cứ: khoản 1, khoản 3 Điều 321; khoản 2 Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS. Xử phạt: Phạm Văn C 10 tháng tù, được trừ 01 tháng 06 ngày tạm giữ, tạm giam, bị cáo còn phải chấp hành 8 tháng 24 ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo 15.000.000₫.
Căn cứ: khoản 1, khoản 3 Điều 321; khoản 2 Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS. Xử phạt: Vũ Thị G 09 tháng tù, được trừ 06 ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 8 tháng 24 ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo 15.000.000₫.
Căn cứ: khoản 1, khoản 3 Điều 321; khoản 2 Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 65 BLHS. Xử phạt: Cao Xuân Q 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo 15.000.000₫.
Giao bị cáo Cao Xuân Q cho UBND xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Phạm Văn C3 18 tháng tù, bị cáo Trương Xuân Đ 60.000.000đ (hình phạt chính) về tội “Tổ chức đánh bạc”; xử phạt bị cáo Dương Khắc T2, Mai Văn G1, Nguyễn Thị H4, Lê Thị H3 và Nguyễn Văn M mỗi bị cáo 25.000.000₫ về tội “đánh bạc”; tuyên xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật
* Sau khi xử sơ thẩm, ngày 05/6/2024 bị cáo Phạm Văn C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Ngày 05/6/2024, bị cáo Nguyễn Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 07/8/2024, bị cáo Nguyễn Văn H rút đơn kháng cáo.
Ngày 10/6/2024 bị cáo Vũ Thị G kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo bổ sung nội dung kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Ngày 24/6/2024, VKSND tỉnh Thanh Hóa ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 07/QĐ-VKS-P7 kháng nghị 01 phần bản án hình sự sơ thẩm số
22/2014/HSST ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa về phần tính thời gian chấp hành án phạt tù đối với bị cáo Nguyễn Văn H và áp dụng Luật thi hành án hình sự trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú đối với bị cáo Cao Xuân Q. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa căn cứ khoản 2 Điều 357 BLTTHS sửa bản án sơ thẩm theo hướng:
- Thời gian tạm giữ của bị cáo Nguyễn Văn H được trừ là 09 ngày, bị cáo còn phải chấp hành 11 tháng 21 ngày tù.
- Đối với bị cáo Cao Xuân Q: trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa rút 01 phần nội dung kháng nghị đối với bị cáo Cao Xuân Q.
* Quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Đối với bị cáo Nguyễn Văn H: bản án HSST số 22/2024/HSST ngày 28/5/2024 của TAND huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa xử phạt bị cáo 12 tháng tù và tính thời gian tạm giữ bị cáo được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù ở lần phạm tội này là 09 ngày, cộng với thời gian bị cáo bị tạm giữ 06 ngày của bản án HSST số 04/2020/HSST ngày 16/01/2020 của TAND huyện Cẩm Thủy, tổng 15 ngày là không chính xác, vi phạm Điều 4a Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán - Tòa án nhân dân Tối cao về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, vì lần phạm tội này bị cáo không phạm tội trong thời gian thử thách của bản án HSST số 04/2020/HSST ngày 16/01/2020 của TAND huyện Cẩm Thủy.
Đối với bị cáo Phạm Văn C và Vũ Thị G: sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết mới được bổ sung tại phiên tòa phúc thẩm, đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 BLTTHS, sửa bản án sơ thẩm theo hướng:
- Chấp nhận kháng nghị của VKSND tỉnh Thanh Hóa đối với bị cáo Nguyễn Văn H.
- Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn C, giảm cho bị cáo một phần hình phạt từ 02 đến 03 tháng tù.
- Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Vũ Thị G, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.
Về án phí: các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo và kháng nghị của VKSND tỉnh Thanh Hóa làm trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, VKSND tỉnh Thanh Hóa rút 01 phần nội dung kháng nghị đối với bị cáo Cao Xuân Q. Bị cáo Nguyễn Văn H đã rút toàn bộ nội dung kháng cáo, nên đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với 01 phần nội dung kháng nghị của VKSND tỉnh Thanh Hóa và kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H.
[2] Xét nội dung kháng nghị của VKSND tỉnh Thanh về tính thời gian tạm giữ được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù của bị cáo Nguyễn Văn H, HĐXX xét thấy: bản án hình sự sơ thẩm số 22/2024/HSST ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS là có căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, bản án nhận định “Theo bản án số 04/2020/HSST ngày 16/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa: bị cáo H bị xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo, nên chưa trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù (bị cáo bị tạm giữ 06 ngày). Do đó, bị cáo được trừ 06 ngày tạm giữ theo bản án nêu trên và được trừ 09 ngày tạm giữ đối với lần phạm tội này để trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù. Tổng bị cáo H được trừ 15 ngày tạm giữ”. Từ nhận định trên, bản án sơ thẩm đã quyết định thời gian tạm giữ bị cáo được trừ khi chấp hành hình phạt tù của lần phạm tội này là 09 ngày cộng với thời gian bị cáo bị tạm giữ của bản án HSST số 04/2020/HSST ngày 16/01/2020 của TAND huyện Cẩm Thủy 06 ngày, tổng là 15 ngày là không chính xác, vi phạm quy định tại Điều 4a Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán - Tòa án nhân dân Tối cao về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo, vì lần phạm tội này bị cáo không phạm tội trong thời gian thử thách của bản án HSST số 04/2020/HSST ngày 16/01/2020 của TAND huyện Cẩm Thủy. Vì vậy, nội dung kháng nghị này của VKSND tỉnh Thanh Hóa là có cơ sở chấp nhận, cần sửa án sơ thẩm để xác định lại thời gian tạm giữ của bị cáo Nguyễn Văn H được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
[3] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo Phạm Văn C và Vũ Thị G:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo khai nhận: xuất phát từ động cơ vụ lợi cá nhân nên vào chiều ngày 22/11/2023 tại đồi cao su thuộc thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa, các bị cáo đã cùng một số đối tượng khác tham gia đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây cầm chương được thua bằng tiền, tổng số tiền thu tại chiếu bạc là 22.900.000đ (hai mươi hai triệu, chín trăm nghìn đồng).
Với hành vi nêu trên, ngày 28/5/2024 Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa đã tuyên xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đồng ý với tội danh mà bản án sơ thẩm đã tuyên và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
HĐXX xét thấy: hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội, ảnh hưởng đến nếp sống văn hóa văn minh, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, do đó cần phải được xử lý nghiêm minh. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo, xử phạt bị cáo Phạm Văn C 10 tháng tù, bị cáo Vũ Thị G 09 tháng tù là phù hợp quy định pháp luật.
Tuy nhiên, tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, các bị cáo nhận thức được sai phạm của mình, tự giác nộp tiền phạt bổ sung và án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước. Bị cáo Vũ Thị G quá trình sinh sống ở địa phương tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện, đóng góp kinh phí cùng Công an xã C mua thẻ bảo hiểm y tế cho các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn; ủng hộ các gia đình có hoàn cảnh khó khăn thuộc thôn Q, xã C mua cột cờ để xây dựng đường cờ Tổ quốc; bị cáo hiện là lao động chính trong gia đình, chồng ốm đau, ba con còn nhỏ; có bố đẻ là người có công với cách mạng, được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến (có xác nhận của chính quyền địa phương). Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Vũ Thị G có nhiều tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận với việc làm của mình; Chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú có ý kiến đề nghị cơ quan pháp luật xem xét, giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương. Xét thấy, bị cáo năm 2021 bị TAND huyện Cẩm Thủy xét xử về hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức phạt tiền, nhưng đã được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tham gia vụ án với vai trò đồng phạm, số tiền tham gia đánh bạc không lớn; sau khi phạm tội đã nhận thức được sai phạm của mình, quyết tâm sửa chữa lỗi lầm. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo, có nơi cư trú rõ ràng ổn định nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội, mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận 01 phần kháng cáo của bị cáo Vũ Thị G. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 22/2024/HS-ST ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa về phần hình phạt đối với bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.
Đối với bị cáo Phạm Văn C: sau khi phạm tội đã nhận thức được sai phạm của mình, tại phiên tòa phúc thẩm bổ sung thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS (tự giác nộp tiền phạt bổ sung và án
phí theo quyết định của bản án sơ thẩm). Vì vậy, HĐXX xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo 01 phần hình phạt, để bị cáo thấy sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm cải tạo thành người công dân tốt, phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí: các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm vì kháng cáo được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Điều 345; Điểm b, đ khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điểm c, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm h khoản 2 Điều 23; điểm d khoản 1 Điều 11 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1/ Đình chỉ 01 phần nội dung kháng nghị phúc thẩm số 07/QĐ-VKS-P7 ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đối với bị cáo Cao Xuân Q.
2/ Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với nội dung kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn H.
3/ Chấp nhận kháng nghị phúc thẩm số 07/QĐ-VKS-P7 ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đối với bị cáo Nguyễn Văn H.
4/ Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn C và 01 phần kháng cáo của bị cáo Vũ Thị G.
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 22/2024/HSST ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa về thời gian tạm giữ của bị cáo Nguyễn Văn H và phần hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn C và Vũ Thị G.
- Căn cứ: khoản 1, khoản 3 Điều 321; khoản 2 Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn H 12 (mười hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ 09 ngày (từ ngày 22/11/2023 đến ngày 01/12/2023). Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng).
- Căn cứ: khoản 1, khoản 3 Điều 321; khoản 2 Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 BLHS.
Xử phạt: bị cáo Phạm Văn C 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam (từ ngày 22/11/2023 đến ngày 29/12/2023).
- Căn cứ: khoản 1, khoản 3 Điều 321; khoản 2 Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 65 BLHS.
Xử phạt: bị cáo Vũ Thị G 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Vũ Thị G cho UBND xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 68, Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Người được hưởng án treo có thể bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo nếu trong thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên.
* Công nhận bị cáo Phạm Văn C và Vũ Thị G đã nộp đủ tiền phạt bổ sung và tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 22/2024/HSST ngày 28/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa (theo các biên lai thu tiền số 0000566 (đối với bị cáo Phạm Văn C) và số 0000565 (đối với bị cáo Vũ Thị G) ngày 12/8/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa).
Về án phí: các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thu Hà |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN.
Vào hồi 16 giờ 00' ngày 22 tháng 5 năm 2024.
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu H5.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn L và ông Mai Đình T6.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 60/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 02 năm 2024, đối với: bị cáo Phạm Văn Đ1 + ĐB đã bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa xử phạt về tội “Đánh bạc”.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1/ Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm theo đúng quy định tại Điều 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Kết quả biểu quyết: 3/3 thống nhất.
2/ Về nội dung: Căn cứ Điều 345; Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận 01 phần kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Đ1, Phạm Thị T5, Bùi Trí Q1.
- Sửa bản án HSST số 01/2024/HSST ngày 11/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa về phần hình phạt đối với bị cáo Phạm Văn Đ1, Phạm Thị T5, Bùi Trí Q1.
Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS (đối với bị cáo Phạm Văn Đ1 và Phạm Thị T5). Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS (đối với bị cáo Bùi Trí Q1).
Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn Đ1, Phạm Thị T5, Bùi Trí Q1 phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt: - Bị cáo Phạm Văn Đ1 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
- Bị cáo Phạm Thị T5 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
- Bị cáo Bùi Trí Q1 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
* Công nhận các bị cáo đã nộp tiền truy thu theo quyết định của bản án sơ thẩm như sau:
- Bị cáo Phạm Văn Đ1 nộp 23.800.000đ (hai mươi ba triệu, tám trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số 0001056 ngày 21/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thành.
- Bị cáo Phạm Thị T5 nộp 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng), theo biên lai thu tiền số 0001057 ngày 21/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thành.
- Bị cáo Bùi Trí Q1 nộp 14.020.000đ (mười bốn triệu, không trăm hai mươi nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số 0001058 ngày 21/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thành.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
3/ Về án phí: các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
4/ Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
5/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi 16 giờ 30 phút cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Phạm Văn Long Mai Đình T6 | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu H5 |
Bản án số 147/2024/HS-PT ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 147/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H + ĐP “Đánh bạc”
