Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BA TRI

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 147/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10/10/2024

V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Huyền Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Huỳnh Thị Bích Vân.
  • 2. Bà Hà Thị Dung.

Thư ký phiên toà: Ông Trương Hữu Lộc – Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Tiến – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 243/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 102/2024/QÐST - HNGĐ ngày 24 tháng 9 năm 2024 của TAND huyện Ba Tri giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Cao Thị H, sinh năm 1983; (Vắng mặt có đơn)

ĐKTT: Số 67/TP, ấp T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Địa chỉ liên hệ: Số A, ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1985; (Vắng mặt).

ĐKTT: Số 67/TP, ấp T, xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Cao Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Trần Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 06/01/2015. Sau khi kết hôn, hai bên chung sống hạnh phúc khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, anh T có tính cờ bạc, rượu chè, không lo làm ăn, khi chị khuyên ngăn thì anh T nhiều lần đánh chị. Từ năm 2016, sau khi bị anh T đánh thì chị bỏ đi và vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian sống ly thân, hai bên đã không còn liên lạc để hàn gắn tình cảm vợ chồng và cũng không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn T.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Trong quá trình tố tụng vụ án, bị đơn anh Trần Văn T không có văn bản thể hiện ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của chị H và không đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

* Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát:

- Về thủ tục: Thẩm phán đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, cấp tống đạt các văn bản cho đương sự, gởi thông báo thụ lý, hồ sơ đến Viện kiểm sát đúng quy định. Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định về trình tự, thủ tục giải quyết của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán chấp hành đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định, đảm bảo cho các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia giải quyết vụ án nên đủ điều kiện đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Việc nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và phiên tòa xét xử vắng mặt đương sự là đúng theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị:

  • + Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Cao Thị H được ly hôn với anh Trần Văn T.
  • + Về con chung: Không có.
  • + Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

  1. [1] Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
  2. [2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị H và anh Trần Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 06/01/2015. Do đó, hôn nhân của chị H và anh T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình giải quyết vụ án, chị H cho rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn nên yêu cầu ly hôn với anh T. Chị H và anh T mâu thuẫn và ly thân đã lâu nhưng cả hai không thể hàn gắn được. Anh T biết việc chị H yêu cầu ly hôn nhưng không đến Tòa chứng tỏ anh T không có thiện chí hàn gắn cùng chị H. Do đó, HĐXX xét thấy tình trạng hôn nhân của chị H và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu ly hôn của chị H là có căn cứ phù hợp với quy định khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận.
  3. [3] Về con chung: Không có.
  4. [4] Về tài sản chung, nợ chung: Không ai có yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
  5. [5] Xét quan điểm đề nghị về nội dung giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri là cùng quan điểm nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
  6. [6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Cao Thị H phải nộp án phí hôn nhân gia đình theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 227, 228, 244 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận cho chị Cao Thị H ly hôn với anh Trần Văn T.
  2. Về con chung: Không có.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
  4. Về án phí: Chị Cao Thị H phải nộp án phí hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng biên lai thu tiền số 0001234 ngày 31/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Ba Tri;
  • - Chi cục THADS huyện Ba Tri;
  • - UBND xã B (B, Bến Tre);
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Trần Thị Huyền Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 147/2024/HNGĐ-ST ngày 10/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE về ly hôn

  • Số bản án: 147/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tòa án chấp nhân cho chị Cao Thị H ly hôn với anh Trần Văn T. Con chung: không có. Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger