|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L TỈNH AN GIANG Bản án số: 147/2020/HNGĐ-ST Ngày 26-11-2020 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Chiền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Hữu Tấn
2. Bà Huỳnh Thị Thúy Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trương Phi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 204/2019/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 04 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 367/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 11 năm 2020 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1988
Địa chỉ: đường P, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thị Việt B - Văn phòng luật sư V thuộc Đoàn luật sư tỉnh An Giang.
Địa chỉ: hẻm Z, phường X, thành phố L, tỉnh An Giang. - - Bị đơn: Ông Lê Nhựt T, sinh năm 1982
Địa chỉ: đường P, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Đức K - Văn phòng luật sư Nguyễn Đức K thuộc Đoàn luật sư tỉnh An Giang.
Địa chỉ: đường L, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang. - - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Trần Thị Minh N, sinh năm 1951.
- + Ông Lê Quang M, sinh năm 1945.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông M: Bà Trần Thị Minh N, sinh năm 1951; Cư trú: đường P, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. (theo giấy ủy quyền ngày 22/10/2020)
(Bà N, ông T, bà N, luật sư B và luật sư K vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông T tự nguyện tìm hiểu, tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 134, quyển số 01, ngày 18/7/2006. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó bắt đầu xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, có nhiều bất đồng về quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được; vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn và kéo dài nên bà N yêu cầu ly hôn với ông T.
- Về con chung: Có 02 (một) con chung tên Lê Trung K, sinh ngày 17/3/2006 và Lê Ngọc Huỳnh N1, sinh ngày 20/01/2011. Sau ly hôn, bà N yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu K; đồng ý giao cháu N1 cho ông T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Quá trình giải quyết, bà N yêu cầu nhận tài sản chung của vợ chồng là căn nhà gắn liền với quyền sử dụng đất số CS09916, thửa số 383, tờ bản đồ 34, diện tích 90 m2 được Sở Tài Nguyên và Môi Trường tỉnh An Giang cấp ngày 14/12/2015 do ông Lê Nhựt T và bà Nguyễn Ngọc N đứng tên. Tuy nhiên, tại phiên hòa giải ngày 30/10/2020 bà N rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu chia tài sản chung vì đã thỏa thuận xong, nên về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo bản tự khai và quá trình giải quyết bị đơn ông Lê Nhựt T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà N tự nguyện tìm hiểu, tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau như bà N trình bày. Do mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đối với yêu cầu ly hôn của bà N thì ông đồng ý.
- Về con chung: Có 02 (một) con chung tên Lê Trung K, sinh ngày 17/3/2006 và Lê Ngọc Huỳnh N1, sinh ngày 20/01/2011. Sau ly hôn, ông yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu N1; đồng ý giao cháu K cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng đã tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết như bà N trình bày.
Theo bản tự khai và quá trình giải quyết người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Quang M, bà Trần Thị Minh N (bà N là đại diện theo ủy quyền của ông M) trình bày:
Trong khối tài sản chung của vợ chồng ông T và bà N thì ông bà có đóng góp tiền để mua. Tuy nhiên, tại phiên hòa giải ngày 30/10/2020 bà N xác định không có yêu cầu, không tranh chấp vì đã thỏa thuận xong nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Ngọc N khởi kiện tranh chấp ly hôn với ông Lê Nhựt T. Ông T cư trú tại đường P, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, nên Tòa án nhân dân thành phố L thụ lý giải quyết là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về hôn nhân: Bà N và ông T tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật... Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N.
[3] Về con chung: Có 02 (một) con chung tên Lê Trung K, sinh ngày 17/3/2006 và Lê Ngọc Huỳnh N1, sinh ngày 20/01/2011. Hội đồng xét xử chấp nhận sự thỏa thuận về người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của bà N và ông T.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; khoản 2 Điều 244; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc N.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc N được ly hôn ông Lê Nhựt T.
- - Về con chung: Có 02 (một) con chung tên Lê Trung K, sinh ngày 17/3/2006 và Lê Ngọc Huỳnh N1, sinh ngày 20/01/2011. Bà N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Lê Trung K; ông T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung Lê Ngọc Huỳnh N1.
- - Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
- - Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc N về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn do bà N rút yêu cầu.
|
Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh An Giang; - VKS ND TPL; - Thi hành án DS TPL; - UBND xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng./. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Chiền |
Bản án số 147/2020/HNGĐ-ST ngày 26/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang về tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 147/2020/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2020
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh An Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu
