Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146A/2023/HS-PT

Ngày: 21/8/2023

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Lê Ngọc Lâm

Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Tân

Bà Lê Thị Dung

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Ông Lê Công C - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 184/2023/TLPT-HS ngày 27 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Ngọc N, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc N, bị hại chị Nguyễn Thị T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 237/2023/HS-ST ngày 23 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Ngọc N - Sinh năm 1982; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số B T, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc M và bà Vũ Thị M1; vợ: Nguyễn Thị T (hiện đã ly hôn), có 03 con: lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 05/3/2008 Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích” (đã chấp hành xong các hình phạt). Ngày 24/10/2022 Ủy ban nhân dân thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe thành viên gia đình”.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/12/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại có kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T - Sinh năm 1989.

Địa chỉ: Số B T, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghi ngờ chồng mình là Nguyễn Ngọc N có quan hệ bất chính với Nguyễn Thị T1. Khoảng 0h30 ngày 21/10/2022 chị Nguyễn Thị T (vợ N) cùng với chị Nguyễn Thị Đ đi tìm N thì phát hiện xe ô tô của Nam đang đậu trước số nhà I N, A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Khi nhìn thấy xe, chị Đ mở cửa phía sau bên lái, còn chị T mở cửa phía trước bên lái xe ô tô của N (lúc này xe đang dừng ở số “P”, xe nổ máy), khi mở cửa xe chị T thấy có N và T1 đang ngồi trong xe. Chị T nói “Tao bắt được chúng mày rồi nhé” rồi vòng tay phải quàng vào cổ N, tay còn lại giữ vô lăng xe ô tô. N yêu cầu chị T buông tay đang giữ vô lăng để đi nhưng chị T không buông, nên N dùng tay trái gạt tay chị T đang quàng cổ N ra, chị T buông tay và giữ vào thành xe ô tô. N ngồi dậy cho xe di chuyển đồng thời gỡ tay trái chị T đang giữ vô lăng, lúc này tay chị T chuyển sang giữ vào cửa xe ô tô đang mở, không cho N đóng cửa. N điều khiển xe tiến về phía trước, kéo chị T đi khoảng 10m thì vươn người ra ngoài dùng tay đẩy vào ngực chị T trong khi xe đang chạy làm cho chị T bị ngã ra đường bị thương, được đưa đi cấp cứu. Còn N điều khiển xe chạy về Y, Y, Thanh Hóa.

Hậu quả chị T bị:

  • - 01 vết sưng nề vùng chẩm, không rõ hình dạng, kích thước 7 x 10 cm
  • - 01 vết thương xây sước chợt da, không gây chảy máu, tại vùng mông đùi trái, kích thước 12 x5 cm.
  • - 01 vết xây sước da không gây chảy máu tại vùng mông trái, kích thước 5 x 4cm.
  • - 02 vết xây sước chợt da, không gây chảy máu tại vùng gối trái, kích thước mỗi vết 1 x1,5cm.
  • - 01 vết bầm tím kích thước (5,5 x 3)cm tại ¼ trên ngoài mông phải.
  • - 01 vết bầm tím kích thước (3 x 2,5)cm tại ½ mặt trước ngoài đùi phải.
  • - 05 vết xước da nông, kích thước lần lượt (2 x 0,2)cm, ( 3 x 0,2) cm, ( 2,5 x 0,5) cm, ( 3 x 0,5)cm, 1,5 x 0,2)cm tại 1/3 trên mặt trước ngoài cẳng chân trái.
  • - 01 vết bầm tím, kích thước ( 3 x 2)cm tại mặt ngoài ở mô út bán chân trái.

Ngày 25/10/2022, chị Nguyễn Thị T đã có đơn đề nghị giám định thương tích và yêu cầu khởi tố vụ án.

* Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 1101/2022/TTPY ngày 3/11/2022:

  • - Sẹo vết thương phần mềm vùng nếp lằn mông (mông đùi) trái, kích thước sẹo lớn 3%;
  • - Sẹo vết thương phần mềm vùng ¼ dưới trong mông trái, kích thước sẹo trung bình 2%;
  • - Vết biến đổi rối loạn sắc tố da tổn vung chẩm trái 1%;
  • - Sẹo vết thương phần mềm vùng trước trên gối trái, kích thước sẹo nhỏ 1%;
  • - Sẹo vết thương phần mềm vùng trước dưới gối trái, kích thước sẹo nhỏ 1%;
  • - Vết biến đổi rối loạn sắc tố da tổn vùng ¼ trên ngoài mông phải 1%;
  • - Vùng 1/3 trên mặt trước ngoài cẳng chân trái có 05 vết sẹo vết thương sước trợt da nông từ trên xuống dưới:
    • + Sẹo vết thương phần mềm thứ nhất: kích thước sẹo nhỏ 1%;
    • + Sẹo vết thương phần mềm thứ hai: kích thước sẹo nhỏ 1%;
    • + Sẹo vết thương phần mềm thứ ba: kích thước sẹo nhỏ 1%;
    • + Sẹo vết thương phần mềm thứ tư: kích thước sẹo trung bình 2%;
    • + Sẹo vết thương phần mềm thứ năm : kích thước sẹo nhỏ 1%;
  • - Vết biến đổi rối loạn sắc tố da tổn vùng ngoài ô mô út bàn chấn trái 1%.

Tại thời điểm giám định pháp y về thương tích: không có hướng dẫn đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do đau sau chấn thương trong Thông tư 22/2019/TT - BYT ngày 28/8/2019.

Tại thời điểm giám định pháp y về thương tích: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với Nguyễn Thị T được tính theo phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể (Cộng theo phương pháp xác định tỷ lệ % TTCT quy định tại điều 4 Thông tư 22/2019/TT- BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y) là 16%.

* Tại bản kết luận giám định pháp y về cơ chế hình thành thương tích:

Tại thời điểm giám định pháp y về cơ chế hình thành thương tích; không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích.

* Thu giữ đồ vật tài liệu, xử lý vật chứng:

01 xe ô tô BKS 30A - 992.24 màu trắng, nhãn hiệu Huyndai Sonata, xe đã qua sử dụng do chị Nguyễn Thị T giao nộp. Quá trình điều tra xác minh chiếc xe trên là của anh Dương Anh T2, anh T2 cho N mượn xe nhưng không biết N sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chủ sở hữu.

* Về dân sự: Quá trình điều tra và tại giai đoạn chuẩn bị xét xử, chị Nguyễn Thị T không có yêu cầu gì về phần bồi thường dân sự đối với Nguyễn Ngọc N. Tại phiên tòa, chị T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 5.000.000 đồng (tiền viện phí), ngoài ra chị T không yêu cầu gì khác. Bị cáo đồng ý, tự nguyện bồi thường cho bị hại 5.000.000 đồng tiền viện phí.

* Bản án hình sự sơ thẩm số 237/2023/HS-ST ngày 23/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa:

Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự. Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a,f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc N: 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/12/2022.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho chị Nguyễn Thị T 5.000.000 đồng ( Năm triệu đồng) tiền viện phí, theo thỏa thuận tại phiên tòa.

Ngoài ra Bản án còn tuyên về phần án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

* Ngày 06/7/2023, bị cáo Nguyễn Ngọc N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngày 01/7/2023 bị hại chị Nguyễn Thị T kháng cáo xin cho bị cáo N được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo N giữ nguyên nội dung kháng cáo, bị hại chị T bổ sung nội dung kháng cáo là xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo; bị cáo N đã nhận thức được hành vi vi phạm của mình. Bị cáo và bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận nội dung kháng cáo.

* Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát: Tại cấp phúc thẩm bị cáo Nguyễn Ngọc N được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo N và một phần kháng cáo của bị hại chị Nguyễn Thị T, giảm cho bị cáo Nguyễn Ngọc N từ 09 đến 11 tháng tù.

Không chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại chị T cho bị cáo hưởng án treo. Bị cáo N, bị hại chị T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc N, bị hại chị Nguyễn Thị T làm theo đúng quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo, bị hại.

[2.1] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo và một phần nội dung kháng cáo của bị hại về xin giảm nhẹ hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Ngọc N tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai trong giai đoạn sơ thẩm, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác; kết luận giám định và các tài liệu thu thập trong quá trình điều tra, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 0h30' ngày 21/10/2022, khi xe ô tô của Nguyễn Ngọc N đang đậu trước số nhà I N, phường A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, chị Nguyễn Thị T (vợ bị cáo) do nghi ngờ bị cáo có quan hệ bất chính với chị Nguyễn Thị T1 nên đã đi theo, chị T đến bên lái mở cửa xe và thấy có N và T1 đang ngồi trong xe thì vòng tay phải quàng vào cổ N, tay còn lại giữ vô lăng xe ô tô. N điều khiển xe tiến về phía trước và dùng tay đẩy vào ngực chị T trong khi xe đang chạy làm chị T bị ngã ra đường. Hậu quả làm cho chị T bị tổn hại 16% sức khỏe và hành vi của bị cáo có tính chất côn đồ nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt. Do vậy có đủ căn cứ kết luận Nguyễn Ngọc N phạm tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Với hành vi trên, Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc N phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc đầy đủ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là nghiêm trọng, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt, bố bị cáo (ông Nguyễn Ngọc M) được tặng thưởng nhiều huân chương, kỷ niệm chương, gia đình ông bà bị cáo được Chính Phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng Bảng gia đình vẻ vang quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để quyết định mức hình phạt 24(hai mươi bốn) tháng tù đối với bị cáo Nguyễn Ngọc N là phù hợp.

Tại giai đoạn phúc thẩm, Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường xong cho bị hại chị T số tiền 5.000.000đồng, bị hại đã nhận đầy đủ số tiền trên. Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới và đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, chấp nhận kháng cáo của bị cáo và một phần kháng cáo của bị hại, giảm cho bị cáo một phần hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Kiểm sát viên đề nghị giảm cho bị cáo từ 09 đến 11 tháng tù là có căn cứ.

[2.2] Xét kháng cáo của bị hại về nội dung xin cho bị cáo hưởng án treo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; hành vi đó không những xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động đến gia đình đã bồi thường xong cho bị hại.

Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, thái độ, nhân thân; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên của bị cáo thì Toà án cấp sơ thẩm áo dụng hình phạt tù đối với bị cáo là phù hợp nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin cho bị cáo hưởng án treo của bị hại chị Nguyễn Thị T.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên tham gia phiên toà đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị hại xin cho bị cáo hưởng án treo là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo, một phần kháng cáo của bị hại được chấp nhận, nên bị cáo và bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: Điểm a, b khoản 1Điều 355; Điều 356; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận một phần kháng cáo của bị hại chị Nguyễn Thị T xin cho bị cáo được được hưởng án treo.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Ngọc N, một phần kháng cáo bị hại chị Nguyễn Thị T; sửa Bản án số 237/2023/HS-ST ngày 23/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa; theo hướng giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc N phạm tội: "Cố ý gây thương tích".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc N 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/12/2022.

* Về trách nhiệm dân sự: Công nhận bị hại chị Nguyễn Thị T đã nhận đủ số tiền bồi thường 5.000.000đồng.

* Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc N, bị hại chị Nguyễn Thị T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

* Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

* Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Vụ I TANDTC;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND, TAND, THAHS TP. Thanh Hoá;
  • - THADS TP. Thanh Hóa;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TỔ HC-TP;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Ngọc Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 146A/2023/HS-PT ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 146A/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bc nguyễn ngọc N phạm tội: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger