|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 1464/2025/DS-ST Ngày: 30-9-2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Hữu Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Huỳnh Hữu Tường.
- Ông Lâm Bình Đăng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 01 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2139/2025/QĐXXST-DS ngày 21 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 3009/2025/QĐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N.
Trụ sở: 02 L, phường G, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Ngô Thị Thùy M-chức vụ: Nhân viên ngân hàng.
Địa chỉ: A P, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh. (xin vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn V và bà Trần Thị H. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: C, (khu nhà ở T) đường L, khu phố D (cũ là tổ A, khu phố A), phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà Trần Thị H, địa chỉ liên lạc:125/48/2 Lê Đức T, khu phố E, phường G, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Công ty TNHH T4
Địa chỉ: C, (khu nhà ở T) đường L, khu phố D (cũ là tổ A, khu phố A), phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị Lệ H-chức vụ: Giám đốc. (vắng mặt)
Ông Nguyễn Thế H1 và bà Trần Thị Lệ H. (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: C, (khu nhà ở T) đường L, khu phố D (cũ là tổ A, khu phố A), phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 06 tháng 12 năm 2022, bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được, cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo, nguyên đơn Ngân hàng N (gọi tắt A) do bà Ngô Thị Thùy M làm đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 25/8/2020 ông Nguyễn Văn V cùng vợ là bà Trần Thị H ký với A Hợp đồng tín dụng số 6150-LAV-202000320 để vay số tiền 5.000.000.000 đồng; phương thức cho vay: Cho vay từng lần; Mục đích sử dụng vốn vay: Bù đắp tài chính mua đất ở; Thời hạn cho vay: 120 tháng, kể từ ngày nhận nợ đầu tiên; lãi suất cho vay: 11.5%/năm, lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.
Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số giải ngân 6150LDS202000507 ngày 27/8/2020. Định kỳ hạn trả nợ gốc, lãi:
| Ngày tháng năm giải ngân | Số tiền giải ngân | Định lỳ trả nợ gốc, lãi | Kỳ hạn trả lãi | |
|---|---|---|---|---|
| Ngày tháng năm | Số tiền gốc | |||
| 27/8/2020 | 5.000.000.000 ₫ | 27/8/2021 | 300.000.000 ₫ | 03 tháng một lần vào ngày 30 |
| 27/8/2022 | 300.000.000 ₫ | |||
| 27/8/2023 | 500.000.000 ₫ | |||
| 27/8/2024 | 500.000.000 ₫ | |||
| 27/8/2025 | 500.000.000 ₫ | |||
| 27/8/2026 | 500.000.000 ₫ | |||
| 27/8/2027 | 500.000.000 ₫ | |||
| 27/8/2028 | 500.000.000 ₫ | |||
| 27/8/2029 | 700.000.000 ₫ | |||
| 27/8/2030 | 700.000.000 ₫ | |||
2. Biện pháp bảo đảm:
Ngày 25/5/2020 ông Nguyễn Văn V cùng vợ là bà Trần Thị H ký với A Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6150LCL202000293 để đảm bảo cho khoản vay của ông Nguyễn Văn V và bà Trần Thị H theo Hợp đồng tín dụng số 6150-LAV-202000320. Tài sản thế chấp là:
Quyền sử dụng đất: Thửa đất số: 759, tờ bản đồ số: 38, Địa chỉ: Phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Diện tích: 90 m², Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BX231969, số vào sổ cấp GCN CH04839 do Ủy ban nhân dân Quận A1 cấp ngày 02/12/2014.
3. Vi phạm nghĩa vụ:
Tạm tính đến ngày 30/9/2025, dư nợ của ông Nguyễn Văn V cùng vợ là bà Trần Thị H theo Hợp đồng tín dụng số 6150-LAV-202000320 ngày 25/8/2020 tại A là: 7.654.214.797 đồng (Bằng chữ: Bảy tỷ sáu trăm năm mươi bốn triệu hai trăm mười bốn nghìn bảy trăm chín mươi bảy đồng), trong đó:
- Dư nợ gốc: 5.000.000.000 đồng.
- Dư nợ lãi: 2.654.214.797 đồng (Lãi trong hạn: 2.408.972.605 đồng, lãi quá hạn: 245.242.192 đồng).
Yêu cầu Tòa án giải quyết những yêu cầu sau đây:
- Buộc ông Nguyễn Văn V và bà Trần Thị H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ tiền vay cho A theo hợp đồng tín dụng số 6150-LAV-202000320 ngày 25/8/2020 tạm tính đến ngày 30/9/2025 là: 7.654.214.797 đồng (Bằng chữ: Bảy tỷ sáu trăm năm mươi bốn triệu hai trăm mười bốn nghìn bảy trăm chín mươi bảy đồng), trong đó:
- - Dư nợ gốc: 5.000.000.000 đồng.
- - Dư nợ lãi: 2.654.214.797 đồng (Lãi trong hạn: 2.408.972.605 đồng, lãi quá hạn: 245.242.192 đồng).
- Buộc ông Nguyễn Văn V và bà Trần Thị H thanh toán phần nợ lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 6150-LAV-202000320 ngày 25/8/2020 kể từ ngày 01/10/2025 cho đến khi trả hết nợ cho A.
- Buộc nếu ông Nguyễn Văn V và bà Trần Thị H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì A có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm của ông Nguyễn Văn V và bà Trần Thị H theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6150LCL202000293 ngày 25/8/2020, tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất: Thửa đất số: 759, tờ bản đồ số: 38, Địa chỉ: Phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Diện tích: 90 m², Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BX231969, số vào sổ cấp GCN CH04839 do Ủy ban nhân dân Quận A1 cấp ngày 02/12/2014.
- Buộc nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ thì ông Nguyễn Văn V và bà Trần Thị H phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng số 6150-LAV-202000320 ngày 25/8/2020 cho đến khi trả hết nợ cho A.
Nhà chưa hoàn công thuộc sở hữu của bị đơn, kết cấu bê tông, cốt thép, 01 trệt, 02 tầng lầu, có mái che cầu thang, diện tích nhà ngang 5m x dài 18m = 90m² đã có từ lúc thẩm định cho vay, do chưa hoàn công nên chỉ ghi thế chấp quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, theo thỏa thuận của hợp đồng thế chấp và quy định pháp luật thì bị đơn xem như là thế chấp toàn bộ đất và nhà đảm bảo khoản vay nếu các bên không có thỏa thuận gì thêm.
Tình trạng tố tụng:
Bị đơn ông V và bà H và tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều vắng mặt tại phiên tòa ngày 12/09/2025 dù đã được triệu tập hợp lệ, dẫn đến quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa ngày 30/09/2025, đại diện nguyên đơn xin vắng mặt và cũng không bổ sung gì thêm nên Tòa án căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt nguyên đơn. Bị đơn ông V và bà H và tất cả những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đều tiếp tục vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do, dù đã được triệu tập hợp lệ. Tòa án căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Nguyên đơn có nộp tham khảo Chứng thư thẩm định giá số 489/2025/27008-1/CT-TV ngày 20/8/2025 của Công ty CP Đ1 thể hiện: Giá trị QSDĐ thửa 759, tờ bản đồ 38, phường T, Quận A (địa chỉ nhà bị đơn) là: 90m² x 63.665.041đ/m² = 5.729.853.690đ; giá trị nhà (công trình xây dựng trên đất) 371m² x 65% (CLCL) x 8.164.072đ = 1.968.765.963đ. Tổng cộng: 7.698.620.000đ (bảy tỷ sáu trăm chín mươi tám triệu sáu trăm hai mươi ngàn đồng).
Nguyên đơn cũng không bổ sung gì thêm.
Hội thẩm nhân dân dự khuyết ông Lâm Bình Đ và ông Huỳnh Hữu T1 thay thế cho hội thẩm nhân dân bà Trần Thị Bích T2 và bà Nguyễn Hồng T3 không tham gia xét xử được do bận việc theo quy định tại khoản 1 Điều 226 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Đề nghị Hội đồng xét xử tạm dừng phiên tòa để xác minh ông V hiện nay có đang ở nơi HKTT thôn P, phường P, tỉnh Đắk Lắk hay không để giải quyết toàn diện vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, và căn cứ vào kết quả thảo luận của Hội đồng xét xử cùng ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Vụ án là tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng N và bị đơn, thuộc phạm vi tranh chấp hợp đồng dân sự theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú ở phường T (như địa chỉ ghi trong hợp đồng tín dụng), Thành phố Hồ Chí Minh nên theo điểm a, khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XV về việc thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội khóa XV về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp Người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hòa giải, Đối thoại tại Tòa án thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7-Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn cố tình giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ thuộc trường hợp “cố tình giấu địa chỉ” nên Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung theo quy định.
[2] Về yêu cầu của các đương sự: Căn cứ vào hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số giải ngân 6150LDS202000507 ngày 27/8/2020 và các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử xác định các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp nêu trên có giá trị pháp lý, mục đích vay hợp pháp, không trái đạo đức xã hội. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Tổng dư nợ tính đến ngày 30/09/2025 là: 7.654.214.797 đồng (Bằng chữ: Bảy tỷ sáu trăm năm mươi bốn triệu hai trăm mười bốn nghìn bảy trăm chín mươi bảy đồng), trong đó:
- - Dư nợ gốc: 5.000.000.000 đồng.
- - Dư nợ lãi: 2.654.214.797 đồng (Lãi trong hạn: 2.408.972.605 đồng, lãi quá hạn: 245.242.192 đồng)
Tiếp tục tính lãi theo lãi suất thỏa thuận của hợp đồng tín dụng từ ngày 01/10/2025 đến khi trả dứt nợ (theo bản tự khai ngày 30/9/2025 và bảng phụ lục sao kê tính đến ngày 30/9/2025 của nguyên đơn).
Các tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm hợp lệ, đảm bảo quyền lợi của nguyên đơn trong việc xử lý tài sản để thu hồi nợ.
Nhà chưa hoàn công kết cấu bê tông, cốt thép, 01 trệt, 02 tầng lầu, có mái che cầu thang, diện tích nhà ngang 5m x dài 18m = 90m² đã có từ lúc thẩm định cho vay, do chưa hoàn công nên chỉ ghi thế chấp quyền sử dụng đất. Các bên cũng không có thỏa thuận khác hay ý kiến gì thêm. Nhà này có Thông báo khởi công số 63/CTY-6TB ngày 06/5/2015 của Công ty TNHH M1 gửi khách hàng là ông V và bà H sau ngày 08/4/2025 là ngày bị đơn được cập nhật sang tên nhận chuyển nhượng. Cho nên, nhà này thuộc quyền sở hữu của bị đơn. Do đó, cần phải xử lý các tài sản thế chấp trong vụ án này là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất (tức nhà) là phù hợp thỏa thuận của các bên tại hợp đồng thế chấp ngày 25/05/2020 (Điều 1 đoạn 1.4) và quy định của khoản 3 Điều 318 Bộ luật Dân sự năm 2015, mọi chi phí phát sinh trong quá trình phát mãi tài sản bảo đảm sau này sẽ do bị đơn chịu. Biên bản định giá lập ngày 21/8/2020 lúc cho vay thì QSDĐ bảo đảm khoản vay có giá trị: 6.705.000.000đ. Chứng thư thẩm định giá số 489/2025/27008-1/CT-TV ngày 20/8/2025 của Công ty CP Đ1 thể hiện: Giá trị QSDĐ thửa 759, tờ bản đồ 38, phường T, Quận A (địa chỉ nhà bị đơn) là: 90m² x 63.665.041đ/m² = 5.729.853.690đ; giá trị nhà (công trình xây dựng trên đất) 371m² x 65% (CLCL) x 8.164.072đ = 1.968.765.963đ. Tổng cộng: 7.698.620.000đ (bảy tỷ sáu trăm chín mươi tám triệu sáu trăm hai mươi ngàn đồng).
Yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán số tiền nợ trên và cho phép kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là có căn cứ, phù hợp với các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015 và Khoản 2 Điều 100 Luật Các tổ chức tín dụng 2024 nghĩ nên chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu.
[4] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị xác minh HKTT của ông V là không cần thiết, ông V đã có Quyết định truy tìm người ngày 18/10/2022 của Công an Thành phố H (thể hiện tại kết quả xác minh của Công an phường T và bài báo đăng tin lưu trong hồ sơ vụ án); hồ sơ và hợp đồng tín dụng cho vay đều ghi địa chỉ bị đơn tạm trú
tại C2, (khu nhà ở T) đường L, khu phố D (cũ là tổ A, khu phố A), phường T, Thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn bỏ trốn, không khai báo nơi ở mới thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo đúng quy định (theo Nghị quyết số 04.2017/HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 147, 238, 273, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các khoản 3 Điều 318, 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Khoản 2 Điều 100 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N.
- Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn V và bà Trần Thị H thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng N tổng số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/09/2025 là 7.654.214.797 đồng (Bằng chữ: Bảy tỷ sáu trăm năm mươi bốn triệu hai trăm mười bốn nghìn bảy trăm chín mươi bảy đồng), trong đó:
- - Dư nợ gốc: 5.000.000.000 đồng.
- - Dư nợ lãi: 2.654.214.797 đồng (Lãi trong hạn: 2.408.972.605 đồng, lãi quá hạn: 245.242.192 đồng)
Bị đơn có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày 01/10/2025 cho đến khi trả dứt nợ.
Trường hợp chưa trả dứt thì nguyên đơn được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ như sau:
Thửa đất số: 759, tờ bản đồ số: 38, địa chỉ: Phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, Diện tích: 90 m² (Bằng chữ: Chín mươi mét vuông), thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH01196 do A1 cấp ngày 12/10/2010 và tài sản gắn liền với đất là căn nhà kết cấu bê tông, cốt thép, 01 trệt, 02 tầng lầu, có mái che cầu thang, diện tích nhà ngang 5m x dài 18m = 90m².
Trường hợp phát mãi tài sản không đủ thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi, bị đơn có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán nợ còn lại theo lãi suất thỏa thuận của hợp đồng tín dụng. Bị đơn phải chịu mọi chi phí phát mãi tài sản (nếu có).
Bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền chi phí tố tụng là: 5.000.000đ (năm triệu đồng).
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: 115.654.215đ (một trăm mười lăm triệu sáu trăm năm mươi bốn ngàn hai trăm mười lăm đồng) bị đơn phải nộp. H2 lại cho nguyên đơn Ngân hàng N số tiền 56.935.632đ (năm mươi sáu triệu chín trăm ba mươi lăm ngàn sáu
trăm ba mươi hai đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số AA/2021/0022483 ngày 28/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Hữu Hạnh |
Bản án số 1464/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 1464/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: hợp đồng tín dụng