|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Số: 146/2024/DS-ST Ngày 31 - 7 - 2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Loan
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Phúc Tiếng
2. Ông Nguyễn Lập Tiến
Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Hà – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Diễm Linh - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 788/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2024/QĐXXST-DS ngày 21/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 149/2024/QĐST-DS ngày 15/7/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
- Ông Lê Quý C, sinh năm 1977 (Vắng mặt)
- Bà Phùng Thị Minh T, sinh năm 1983 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Số F N, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn: Ông Đào Ngọc M, sinh năm 1988 (Có mặt)
Địa chỉ: Số H H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Bị đơn:
- Ông Lâm Đức T1, sinh năm 1980 (Vắng mặt); Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
- Địa chỉ: Số nhà B, hẻm B L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Văn phòng C1.
- Ngân hàng TMCP Đ (B).
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu T2. Chức vụ: Trưởng Văn phòng. (Vắng mặt, có đơn từ chối tham gia tố tụng tại Tòa án)
Địa chỉ: Số A Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T3. Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Địa chỉ trụ sở: Tháp B, số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Phùng Hoàng H. Chức vụ: TP phòng KHCN 2 (Vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)
Địa chỉ: Số B N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
- Đại diện theo pháp luật của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C1, ông Nguyễn Hữu T2 trình bày:
- Đại diện theo ủy quyền của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP Đ, ông Hoàng Hùng H1 trình bày:
Ngày 02/8/2023, ông Lê Quý C và bà Phùng Thị Minh T (bên A) cùng ký hợp đồng đặt cọc với ông Lâm Đức T1 và bà Nguyễn Thị M1 (bên B) để giao kết chuyển nhượng cho bên A quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 152, tờ bản đồ số 16, diện tích 102,2 m², địa chỉ tại phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 612137, vào số số CH-14372 do Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 21/10/2020, thay đổi cơ sở pháp lý ngày 16/11/2021.
Bên A đã đặt cọc cho bên B số tiền là 2.500.000.000₫ (Hai tỷ năm trăm triệu đồng) ngay sau khi hợp đồng đặt cọc được công chứng ngày 02/8/2023 tại Văn phòng C1, số công chứng 006328, quyển số 01/2023TP/CC-SCC/HĐGD, chúng tôi đã trả đủ tiền.
Các bên thỏa thuận thời hạn đặt cọc là 60 ngày kể từ ngày 02/8/2023 đến hết ngày 01/10/2023 thì bên B phải thực hiện giải chấp tài sản, đăng ký xóa thế chấp và ký kết hợp đồng chuyển nhượng cho bên A.
Đến nay đã quá thời hạn trong hợp đồng đặt cọc nhưng Bên B không chịu thực hiện như cam kết trong hợp đồng đặt cọc, cũng không hoàn trả tiền cọc và tiền phạt cọc cho Bên A là ông Lê Quý C và bà Phùng Thị Minh T.
Yêu cầu tòa án buộc bên B là bà Nguyễn Thị M1 và ông Lâm Đức T1 phải hoàn trả cho Bên A là ông Lê Quý C và bà Phùng Thị Minh T số tiền đã đặt cọc là 2.500.000.000₫ và 2.500.000.000₫ do vi phạm hợp đồng đặt cọc, tổng cộng là 5.000.000.000đ (Năm tỷ đồng).
Xét về hình thức, nội dung và thủ tục công chứng Hợp đồng đặt cọc được Văn phòng C1 chứng nhận ngày 02/8/2023, số công chứng: 006328, quyển số 01/2023TP/CC-SCC/HĐGD do Công chứng viên Nguyễn Thị Tường V của Văn phòng C1 đã thực hiện không vi phạm pháp luật. Vì vậy, Văn phòng C1 không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án nên Văn phòng C1 từ chối tham gia tố tụng và xin được vắng mặt tại Tòa.
Ngày 24/11/2021, bà Nguyễn Thị M1 và ông Lâm Đức T1 ký Hợp đồng tín dụng vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B1 theo Hợp đồng tín dụng số 01/2021/12046092/HĐTD: Số tiền vay: 3.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ đồng chẵn)
Mục đích sử dụng tiền vay: Hoàn tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Thời hạn vay: 360 tháng kể từ ngày Hợp đồng có hiệu lực.
Lãi suất vay: Lãi suất 7.2%/năm áp dụng cố định trong 12 tháng đầu kể từ thời điểm giải ngân, lãi suất từ tháng 13 áp dụng lãi suất thả nổi định kỳ điều chỉnh 6 tháng/lần vào ngày 01/01; 01/07 hàng năm, bằng lãi suất tiết kiệm trả sau kỳ hạn 24 tháng ( HĐV khách hàng cá nhân) tại thời điểm điều chỉnh + biên độ tối điểm điều chỉnh. thiểu 4%/năm và không thấp hơn lãi suất cho vay trung dài hạn áp dụng tại thời; Lãi suất quá hạn: Đối với gốc quá hạn, lãi suất quá hạn là: 150% lãi suất trong hạn; Lãi chậm trả áp dụng đối với nợ lãi chậm trả là: 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Thực hiện Hợp đồng: Tính đến ngày 01/05/2024: Số tiền gốc đã trả : 2.100.000.000 đồng; Dư nợ gốc còn lại: 900.000.000 đồng; Nợ lãi: 112.985.206 đồng; Lãi quá hạn: 4.595.408 đồng
Ngày 07/04/2022, bà Nguyễn Thị M1 và ông Lâm Đức T1 ký tiếp Hợp đồng tín dụng vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B1 theo Hợp đồng tín dụng số 01/2022/12046092/HĐTD:
Số tiền vay: 3.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba tỷ đồng chẵn); Mục đích sử dụng tiền vay: Thanh toán tiền xây nhà; Thời hạn vay: 360 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng; Lãi suất vay: Lãi suất 10.7%/năm áp dụng lãi suất thả nổi định kỳ điều chỉnh 6 tháng/lần vào ngày 01/01 và ngày 01/07 hàng năm. Lãi suất áp dụng kỳ đầu tiên (từ ngày cho vay đến ngày điều chỉnh gần nhất) theo lãi suất trung dài hạn công bố ở trên, các kỳ tiếp theo bằng lãi suất tiết kiệm trả sau kỳ hạn 24 tháng ( HĐV khách hàng cá nhân) tại thời điểm điều chỉnh + biên độ tối thiểu 4%/năm và không thấp hơn lãi suất cho vay trung dài hạn áp dụng tại thời điểm điều chỉnh. Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Trường hợp lãi suất trong hạn được điều chỉnh thì lãi suất nợ quá hạn sẽ tính theo mức lãi suất trong hạn đã được điều chỉnh; Lãi chậm trả áp dụng đối với nợ lãi chậm trả là: 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Thực hiện Hợp đồng: Tính đến ngày 01/05/2024: Số tiền gốc đã trả: 100.000.000 đồng; Dư nợ gốc còn lại: 2.900.000.000 đồng; Nợ lãi: 243.552.329 đồng; Lãi quá hạn: 6.477.331 đồng.
Ngày 14/04/2023, bà Nguyễn Thị M1 và ông Lâm Đức T1 ký tiếp Hợp đồng tín dụng vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B1 theo Hợp đồng tín dụng số 01/2023/12046092/HĐTD: Số tiền vay: 5.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm tỷ đồng chẵn)
Số tiền rút vốn lần đầu ngày 14/04/2023: 4.600.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn tỷ sáu trăm triệu đồng)
Mục đích sử dụng tiền vay: Bổ sung vốn kinh doanh Đồ chơi, đồ gia dụng, mỹ phẩm.
Thời hạn vay: 11 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng; Lãi suất vay: 10,9%/năm, cố định trong suốt thời hạn hiệu lực của hợp đồng. Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Trường hợp lãi suất trong hạn được điều chỉnh thì lãi suất nợ quá hạn sẽ tính theo mức lãi suất trong hạn đã được điều chỉnh; Lãi chậm trả áp dụng đối với nợ lãi chậm trả là: 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Thực hiện Hợp đồng: Tính đến ngày 01/05/2024: Số tiền gốc đã trả : 3.550.000.000 đồng; Dư nợ gốc còn lại: 1.050.000.000 đồng Nợ lãi: 92.978.492 đồng; Lãi quá hạn: 10.507.668 đồng.
Ngày 14/04/2023, bà Nguyễn Thị M1 và ông Lâm Đức T1 ký tiếp hợp đồng tín dụng vay vốn tại Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B1 theo Hợp đồng tín dụng số 02/2023/12046092/HĐTD:
Số tiền vay: 1.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ đồng chẵn)
Mục đích sử dụng tiền vay: Thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của Khách hàng vay
Thời hạn vay: 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng
Lãi suất vay: 9,8%/năm, cố định trong suốt thời hạn hiệu lực của hợp đồng
Lãi suất quá hạn: 150% lãi suất trong hạn. Trường hợp lãi suất trong hạn được. điều chỉnh thì lãi suất nợ quá hạn sẽ tính theo mức lãi suất trong hạn đã được điều chỉnh; Lãi chậm trả áp dụng đối với nợ lãi chậm trả là: 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Thực hiện Hợp đồng: Tính đến ngày 01/05/2024: Số tiền gốc đã trả : 50.005 đồng; Dư nợ gốc còn lại: 999.949.995 đồng; Nợ lãi: 82.960.235 đồng; Lãi quá hạn: 5.266.471 đồng
Ngày 28/11/2021, Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh B1 đã cấp cho bà Nguyễn Thị M1 thẻ tín dụng: Hạn mức thẻ: 100.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm triệu đồng chẵn)
Lãi suất vay: 15,5%/năm, cố định trong suốt thời hạn hiệu lực của hợp đồng. Tính đến ngày 01/05/2024: Số tiền gốc đã trả : 895.521 đồng; Dư nợ gốc còn lại: 99.104.479 đồng Dư nợ lãi: 12.981.230 đồng; Lãi quá hạn: 353.761 đồng
Khoản vay nói trên được đảm bảo bởi: Bất động sản theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 01/2021/12046092/HĐBĐ ngày 23/11/2021 ký kết giữa bên thế chấp là bà Nguyễn Thị M1 và ông Lâm Đức T1 với bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B2
Tài sản thế chấp như sau: Đất và tài sản gắn liền với đất tại Phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 612137, số vào sổ cấp GCN QSDĐ: CH-14372 do UBND Thành phố B cấp ngày 21/10/2020. Cụ thể như sau: Địa chỉ: Phường T, TP ., tỉnh Đắk Lắk; Diện tích đất: 102.2 m²; Thửa đất số: 152; Tờ bản đồ số: 16; Mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị.
Do Bà Nguyễn Thị M1 và ông Lâm Đức T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã làm đơn kiện đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh Đắk Lắk giải quyết. Ngày 22/03/2024, Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh Đắk Lắk đã ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 31/2024/QĐST-DS. Ngày 16/04/2024, Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định số 2145/QĐ-CCTHADS về việc thi hành án theo yêu cầu đối với Bà Nguyễn Thị M1 và ông Lâm Đức T1.
Ngày 13/12/2023, Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột có Thông báo thụ lý vụ án số 788/TB-TLVA về việc:” Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” giữa nguyên đơn ông Lê Quý C, bà Phùng Thị Minh T và bị đơn bà Nguyễn Thị M1, ông Lâm Đức T1. Ngân hàng Đ - Chi nhánh B1 đã có công văn phản hồi số 273/CV-BIDV.BM ngày 03/04/2024 với nội dung:
Khi thỏa thuận đặt cọc, bà Nguyễn Thị M1 và ông Lâm Đức T1 không có thông báo cho Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B2
Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B1 không có văn bản đồng ý đối với thỏa thuận đặt cọc này.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đầy đủ và thực hiện đúng với quy định của pháp luật.
Về nội dung: Ngay tại thời điểm ông T1, bà M1 giao kết hợp đồng đặt cọc thì quyền sử dụng đất đang thế chấp tại Ngân hàng, các bên cũng không báo cho Ngân hàng biết và chưa được Ngân hàng đồng ý nên đã vi phạm điều cấm của pháp luật, dẫn đến hợp đồng đặt cọc không phát sinh hiệu lực và vô hiệu.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144, Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 266 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 120, Điều 320 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quý C, bà Phùng Thị Minh T:
Buộc bà Nguyễn Thị M1 và ông Lâm Đức T1 trả cho ông Lê Quý C, bà Phùng Thị Minh T số tiền đặt cọc là 2.500.000.000₫ (Hai tỷ năm trăm triệu đồng).
Không chấp nhận đối với yêu cầu của ông Lê Quý C, bà Phùng Thị Minh T về việc buộc ông Lâm Đức T1, bà Nguyễn Thị M1 phải trả số tiền phạt cọc là 2.500.000.000₫ (Hai tỷ năm trăm triệu đồng).
Về án phí và chi phí tố tụng: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả thẩm tra công khai các tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, Đại diện theo pháp luật của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C1 từ chối tham gia tố tụng; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP Đ: Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn ông Lâm Đức T1, bà Nguyễn Thị M1: Vắng mặt lần thứ hai, không có lý do; Do đó, HĐXX xét xử vắng mặt những người này là phù hợp với Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung:
Vào ngày 02/8/2023, tại Văn phòng C1, ông Lê Quý C, bà Phùng Thị Minh T (Bên đặt cọc) và ông Lâm Đức T1, bà Nguyễn Thị M1 (Bên nhận đặt cọc) đã ký Hợp đồng đặt cọc. Theo đó, mục đích đặt cọc là để giao kết và thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng đối với tài sản là Q sử dụng thửa đất số 152, tờ bản đồ số 16, diện tích 102,2 m², địa chỉ tại: Phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CV 612137, số vào sổ: CH-14372, do UBND thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 21/10/2020, thay đổi cơ sở pháp lý ngày 16/11/2021. Tổng số tiền Bên đặt cọc đặt cọc cho Bên nhận đặt cọc là là 2.500.000.000₫ (Hai tỷ năm trăm triệu đồng).
Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng đặt cọc của các bên được lập ra để nhằm thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, khi lập hợp đồng các bên đều tự nguyện ký kết hợp đồng, tuy nhiên khi nhận đặt cọc đất thì diện tích đất trên đang được thế chấp tại Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 01/2021/12046092/HĐBĐ ngày 23/11/2021 ký kết giữa bên thế chấp là bà Nguyễn Thị M1 và ông Lâm Đức T1 với bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B2
Ngân hàng Đ - Chi nhánh B1 đã có công văn phản hồi số 273/CV-BIDV.BM ngày 03/04/2024 với nội dung:
“Khi thỏa thuận đặt cọc, bà Nguyễn Thị M1 và ông Lâm Đức T1 không có thông báo cho Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B2
Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh B1 không có văn bản đồng ý đối với thỏa thuận đặt cọc này”
Theo quy định tại khoản 8 Điều 320 Bộ luật dân sự: “Không được bán, thay thế, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 321 của Bộ luật này.” và khoản 5 Điều 321 Bộ luật dân sự quy định: “Được bán, trao đổi, tặng cho tài sản thế chấp không phải là hàng hóa luân chuyển trong quá trình sản xuất, kinh doanh, nếu được bên nhận thế chấp đồng ý hoặc theo quy định của luật.”. Như vậy ngay tại thời điểm ông Lê Quý C, bà Phùng Thị Minh T và bà Nguyễn Thị M1, ông Lâm Đức T1 giao kết hợp đồng thì quyền sử dụng đất đang thế chấp tại Ngân hàng, các bên cũng không báo cho Ngân hàng biết và chưa được Ngân hàng đồng ý nên đã vi phạm điều cấm của pháp luật, dẫn đến hợp đồng đặt cọc không phát sinh hiệu lực và vô hiệu.
Do hợp đồng đặt cọc vô hiệu nên các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quý C, bà Phùng Thị Minh T về việc buộc bà Nguyễn Thị M1 và ông Lâm Đức T1 phải trả cho ông Lê Quý C, bà Phùng Thị Minh T số tiền đặt cọc là 2.500.000.000₫ (Hai tỷ năm trăm triệu đồng).
[3] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quý C, bà Phùng Thị Minh T về việc phạt cọc đối với số tiền 2.500.000.000₫ (Hai tỷ năm trăm triệu đồng).
[4] Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn bà Nguyễn Thị M1 và ông Lâm Đức T1 phải chịu 430.000₫ (Bốn trăm ba mươi nghìn đồng) tiền chi phí thu thập tài liệu, chứng cứ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B. Số tiền này Nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên buộc Bị đơn bà Nguyễn Thị M1 và ông Lâm Đức T1 phải trả cho ông Lê Quý C, bà Phùng Thị Minh T 430.000₫ (Bốn trăm ba mươi nghìn đồng).
Bị đơn bà Nguyễn Thị M1 và ông Lâm Đức T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 72.000.000 đồng + (500.000.000đồng x 2%) = 82.000.000 đồng.
Ông Lê Quý C, bà Phùng Thị Minh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 72.000.000 đồng + (500.000.000đồng x 2%) = 82.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 119, Điều 120, Điều 122, Điều 131, Điều 320, Điều 321, Điều 328, Điều 401, Điều 407, Điều 408 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1] Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Quý C, bà Phùng Thị Minh T.
Tuyên bố hợp đồng đặt cọc giữa bà Nguyễn Thị M1, ông Lâm Đức T1 và ông Lê Quý C, bà Phùng Thị Minh T được xác lập vào ngày 02/8/2023, số công chứng 006328, quyển số 01/2023TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1 là vô hiệu.
Buộc bà Nguyễn Thị M1, ông Lâm Đức T1 có trách nhiệm trả cho ông Lê Quý C, bà Phùng Thị Minh T số tiền đặt cọc là 2.500.000.000₫ (Hai tỷ năm trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
[2] Không chấp nhận đối với yêu cầu của ông Lê Quý C, bà Phùng Thị Minh T về việc buộc ông Lâm Đức T1, bà Nguyễn Thị M1 phải trả số tiền phạt cọc là 2.500.000.000₫ (Hai tỷ năm trăm triệu đồng).
[3] Về chi phí tố tụng: Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị M1 và ông Lâm Đức T1 phải trả cho ông Lê Quý C, bà Phùng Thị Minh T 430.000 ₫ (Bốn trăm ba mươi nghìn đồng) chi phí thu thập tài liệu, chứng cứ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B.
[4] Về án phí : Bị đơn bà Nguyễn Thị M1 và ông Lâm Đức T1 phải chịu 82.000.000₫ (T4 mươi hai triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Lê Quý C, bà Phùng Thị Minh T phải chịu 82.000.000đ (T4 mươi hai triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.500.000đ (Năm mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số AA/2023/0004449 ngày 29/11/2023 (ông Đào Hoàng A nộp thay) tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, ông Lê Quý C, bà Phùng Thị Minh T còn phải nộp số tiền là 25.500.000đ (Hai mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng).
[4] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thị hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.”
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Loan |
Bản án số 146/2024/DS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 146/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
