TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHU NGHIA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 146/2024/HSST Ngày 29/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Tuân và ông Trịnh Quyết Thắng.
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Bà Lường Phương Thảo, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 146/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đối với bị cáo:
Họ và tên: Vừ A D; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; sinh ngày 01/01/1985; tại huyện T, tỉnh Điện Biên; giới tính: Nam; nơi cư trú: Bản Thẩm Táng, xã P, huyện T, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Đạo Tin lành; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: Lớp 3; con ông Vừ A S, đã chết; con bà Ly Thị C, sinh năm 1935; bị cáo có vợ là chị Vàng Thị T, sinh năm 1991 và có 06 người con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân bị cáo: Bị cáo chưa từng bị kết án và chưa từng bị xử lý vi phạm hành chính; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/4/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T; bị cáo được trích xuất áp giải và có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo có: Ông Phùng Việt H - Luật sư thuộc Văn phòng L thực hiện Trợ giúp pháp lý của Trung Tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; vắng mặt có lý do.
Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Sùng A K; sinh năm: 1999; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trú tại: Bản T, xã P, huyện T, tỉnh Điện Biên, có mặt
Nguyên đơn dân sự: Ban quản lý rừng phòng hộ huyện T, tỉnh Điện Biên; địa chỉ trụ sở: Xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên. Đại diện theo pháp luật có ông Phạm Quốc H1; chức vụ: Giám đốc ban quản lý rừng phòng hộ huyện T; nơi ĐKTT: Tổ dân phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; nơi tạm trú: Bản C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên; vắng mặt có lý do.
NHẬN THẤY:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 10 năm 2023, do muốn có đất làm nông nghiệp Vừ A D, trú tại bản Thẩm Táng, xã P, huyện T, tỉnh Điện Biên, mang theo 01 con dao quắm, đi bộ đến khu vực rừng (theo tiếng địa phương là Háng Phi P) thuộc Tiểu khu F, khoảnh 2 tại bản Huổi Nôm, xã M, huyện T là khu vực rừng phòng hộ theo Quyết định số 1208/QĐ-UBND tỉnh Đ ngày 21/12/2018, được giao cho Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện T quản lý, bảo vệ và được hưởng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng từ năm 2016. Vừ A Dơ quan sát khu rừng chỉ có cây chuối và cây dây leo, không có cây gỗ, D đã dùng dao quắm chặt, phát cây liên tục trong một ngày thì dừng lại. Đến tháng 11 năm 2023, khi D đang ở khu vực rừng Dơ chặt phá trước đó dọn dẹp các cây đã chặt phá để làm nương thì có một người nam giới giới thiệu ở tỉnh Sơn La, không nói địa chỉ cụ thể đến hỏi D có nhu cầu san ủi đất làm mặt bằng hay không, qua trao đổi D đồng ý và thuê người này san ủi diện tích rừng D đã chặt phá để làm ruộng với giá 45.000.000 đồng. Sáng hôm sau, người nam giới này lái máy xúc đến khoảnh rừng Dơ chặt phá trước đó và tiến hành san ủi diện tích rừng 6.205m² trong thời gian 03 ngày thì xong, D đã trả trước cho người đàn ông này 3.000.000 đồng, số tiền còn lại Dơ chưa thanh toán thì bị Hạt kiểm lâm huyện T phát hiện hành vi hủy hoại rừng của Vừ A D.
Ngày 20/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, xác định diện tích rừng bị Vừ A D chặt phá san ủi là 6.205 m².
Tại bản kết luận số 04/KL-GĐ ngày 04/3/2024 của Chi cục kiểm lâm tỉnh Đ, kết luận diện tích 6.205 m² tại tiểu khu F, khoảnh 2 Vừ A Dơ đã chặt phá, san ủi là rừng, loại rừng phòng hộ.
Tại công văn số 942 ngày 07/6/2024 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Điện Biên trả lời về việc xác định giá trị thiệt hại về môi trường, do không có cơ sở dữ liệu về môi trường, đồng thời UBND tỉnh Đ chưa có quy định, định mức xác định nên chưa có cơ sở, căn cứ để xác định mức độ thiệt hại môi trường theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số: 105/CT-VKSTG ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố bị cáo Vừ A D về tội Hủy hoại rừng, theo điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 BLHS, Điều 99 và Điều 100 Luật Thi hành án hình sự; xử phạt bị cáo Vừ A D từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng cải tạo không giam giữ. Khấu trừ thời gian tạm giam bị cáo theo quy định. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Điện Biên nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Vừ A D cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Điện Biên giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 4 Điều 243 của Bộ luật Hình sự với bị cáo. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo theo khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự. Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa. Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự. Về phần bồi thường thiệt hại do không yêu cầu, nên không đề nghị HĐXX giải quyết. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điểm a
khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 con dao quắm là công cụ Dơ sử dụng hủy hoại rừng. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí; nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện của Ban quản lý rừng phòng hộ huyện T vắng mặt; tại đơn đề nghị ngày 26/7/2024 trình bày: Diện tích rừng Vừ A D chặt phá là 6.205m², đây là rừng phòng hộ, đã được giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ huyện T quản lý và Ban Q có có chi trả dịch vụ môi trường rừng cho cộng đồng bản bảo vệ rừng. Trong thời gian xảy ra vụ việc, bị cáo đã khắc phục hậu quả trồng lại 1000 cây keo lên diện tích rừng đã bị phá. Đối với hành vi của D đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Luận cứ bào chữa cho bị cáo: Về tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Nhất trí về tội danh và điều luật Viện kiểm sát đề nghị. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243; điểm s, b khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự, điều kiện hoàn cảnh của bị cáo, tuyên phạt bị cáo ở mức khởi điểm mà Viện kiểm sát đề nghị, để bị cáo được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước; đề nghị miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận phạm tội “Hủy hoại rừng” và trong thời gian qua bị cáo đã nhận thức sâu sắc về hành vi sai trái của bị cáo nên bị cáo rất ăn năn hối hận, bị cáo thấy hành vi của mình gây thiệt hại đã tự nguyện khắc phục hậu quả; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng cải tạo không giam giữ, để bị cáo cố gắng phấn đấu, sửa chữa sai lầm của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi của mình, lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai có trong hồ sơ vụ án và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ; nên có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Vừ A D đã có hành vi hủy hoại 6.205m² rừng phòng hộ thuộc Tiểu khu F, khoảnh 2 tại bản Huổi Nôm, xã M, huyện T là khu vực rừng phòng hộ theo Quyết định số 1208/QĐ-UBND tỉnh Đ ngày 21/12/2018, được giao cho Ban Quản lý rừng phòng hộ huyện T quản lý, bảo vệ và được hưởng tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng từ năm 2016. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Hủy hoại rừng”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố và Kiểm sát viên luận tội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Đánh giá về tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng, xâm hại đến sự ổn định và bền vững của môi trường sinh thái.
Tuy nhiên, xét về hoàn cảnh xảy ra hành vi phạm tội thì thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; bản thân đông con nên thiếu đất canh tác nông nghiệp chỉ vì thiếu hiểu biết cho rằng việc tìm khoảng đất như ông cha trước kia để phát cây, cải tạo đất làm nương rẫy nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực cho gia đình. Đối với khoảng rừng bị hủy hoại cũng không có các loại cây thân gỗ chủ yếu là cây cỏ lau, cây chuối rừng, cây dây leo nên thiệt hại về vật chất cũng chưa lớn. Trong quá trình điều tra truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của minh là vi phạm nên đã tự nguyện khắc phục hậu quả thiệt hại bằng việc tác động đến người thân là trồng lại cây keo lên toàn bộ khu vực bị cáo đã chặt phá; do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1 Điều 51 BLHS.
Bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng; nên HĐXX thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội; đồng thời nếu để bị cáo chấp hành hình phạt ngoài cộng đồng sẽ giúp bị cáo có điều kiện chăm sóc những cây đã trồng lên khu vực bị cáo đã chặt phá. Do đó chỉ cần giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ cải tạo bị cáo trở thành người tốt, qua đây thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội lần đầu biết ăn năn hối cải; vì vậy cần căn cứ Điều 36 BLHS đối với bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 BLHS.
[3] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 4 Điều 243; khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền và khấu trừ thu nhập. Tuy nhiên HĐXX xét thấy bị cáo chỉ làm nương, gia đình đông con, thuộc hộ nghèo không có khả năng thi hành. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
[4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên và người bào chữa: HĐXX xét thấy là phù hợp tính chất, mức độ, tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo, nên HĐXX chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Ban quản lý rừng phòng hộ không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại và không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét. Tuy nhiên bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả bằng biện pháp trồng 1000 cây keo lên khu đất bị cáo đã chặt phá; Ban quản lý rừng phòng hộ huyện T đã trực tiếp kiểm tra và chấp nhận biện pháp khắc phục của bị cáo. Do đó cần ghi nhận sự tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả của bị cáo để xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
[6] Đối với người san ủi mặt bằng cải tạo thành ruộng cho bị cáo; do quá trình thuê và thực hiện việc san ủi bị cáo không có thông tin của người đó; vì vậy không có cơ sở để làm rõ và xử lý; nên HĐXX không xem xét.
[7] Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; xử lý vật chứng như sau: 01 con dao quắm có chiều dài 63,5 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 22,5 cm có một đầu nhọn quắm lại dài 07 cm, phần rộng nhất của lưỡi dao dài 04 cm, phần hẹp nhất của lưỡi dao dài 2,5 cm, phần cán dao bằng gỗ hình trụ tròn dài 41 cm, đường kính 03 cm do D sử dụng hủy hoại rừng là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Xét đề nghị miễn án phí của Kiểm sát viên, người bào chữa đối với bị cáo và đơn đề nghị miễn án phí của bị cáo với lý do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn thì thấy phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
[9] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Không có ý kiến khiếu nại các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của Pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự:
1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Vừ A D phạm tội “Hủy hoại rừng”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 243; điểm s, b khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Vừ A D 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ (bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giam là 117 ngày). Thời hạn cải tạo không giam giữ còn lại tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện T, tỉnh Điện Biên nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án có hiệu lực pháp luật. Giao bị cáo D cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Điện Biên giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo D có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Người chấp hành án cải tạo không giam giữ khi vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ tại Điều 99 Luật thi hành án hình sự quy định về cải tạo không giam giữ.
Áp dụng khoản 3 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Vừ A D, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu 01 con dao quắm có chiều dài 63,5 cm, phần lưỡi dao bằng kim loại dài 22,5 cm có một đầu nhọn quắm lại dài 07 cm, phần rộng nhất của lưỡi dao dài 04 cm, phần hẹp nhất của lưỡi dao dài 2,5 cm, phần cán dao bằng gỗ hình trụ tròn dài 41 cm, đường kính 03 cm do D sử dụng hủy hoại rừng để tiêu hủy.
(Đặc điểm vật chứng được ghi theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo).
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 29/7/2024). Nguyên đơn dân sự vắng mặt có quyền kháng cáo phần liên quan đến bồi thường thiệt hại tại bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lương Thị Nga |
Bản án số 146/2024/HSST ngày 29/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo - Tỉnh Điện Biên về hủy hoại rừng
- Số bản án: 146/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hủy hoại rừng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo - Tỉnh Điện Biên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo phạm tội Hủy hoại rừng
