Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 146/2024/HS-ST

Ngày: 28 - 6 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Khánh Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Tô Thị Ngọc Sang;

2. Bà Nguyễn Thị Túy Phượng.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Tấn là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 174/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 217/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu Đ, sinh năm 2001 tại tỉnh An Giang. Hộ khẩu thường trú: Ấp T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang; chỗ ở: Ô21 lô DC15 đường D khu dân cư V, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Hòa hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Nhật T, sinh năm 1979 và bà Đỗ Thị Bé B, sinh năm 1980; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2023, có mặt tại điểm cầu nhà tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Người làm chứng:

Ông Nguyễn Đình Á, vắng mặt.

Bà Nguyễn Ngọc L, vắng mặt.

Bà Lê Huỳnh Khánh N, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hữu Đ là người sử dụng trái phép chất ma túy. Vào ngày 20/12/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Hữu Đ sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone Iphone XS Max, màu sơn tím, gắn sim số 0342639963, đăng nhập vào tài khoản zalo tên “Nguyễn Hữu Đ” gọi cho zalo của một đàn ông tên Q có đặc điểm cao 1m75, nói giọng miền B, nước da ngâm đen, khoảng 34 tuổi, có tài khoản zalo tên “Q” để hỏi mua ma túy với số tiền 3.700.000 đồng. Sau đó, Đ đến khu vực trên đường D, khu dân cư V thuộc khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương lấy ma túy của Q và đưa cho Q số tiền 3.700.000 đồng rồi đem về phòng trọ tại địa chỉ Ô21 lô DC15, đường D, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương cất giấu sử dụng dần.

Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 21/12/2023, tổ tuần tra Công an phường A đi tuần tra kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn. Khi đi đến đoạn đường phía trước căn nhà, địa chỉ: Ô, lô D, đường D, khu phố D, phường A, thành phố T, Bình Dương phát hiện Nguyễn Hữu Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter, màu xanh, biển số 67C1-684.78 chở phía sau Nguyễn Đình Á và Lê Huỳnh Khánh N đều không đội nón bảo hiểm nên dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, Đ khai nhận có sử dụng ma túy và tự nguyện lấy từ túi quần bên phải phía trước Đ đang mặc ra 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn. Ngoài ra, Đ khai nhận còn cất giấu ma túy tại phòng trọ số 3 của Đ tại cơ sở trọ địa chỉ Ô21 lô DC15, đường D, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên Công an phường A tiến hành kiểm tra hành chính tại cơ sở trọ nêu trên. Thời điểm kiểm tra tại phòng trọ số 3 của Đ có Nguyễn Ngọc L là bạn gái của Đ đến chơi. Lúc này, Đ đến tủ áo quần và lấy ra 01 cái dĩa sành màu trắng có in hoa văn cánh hoa bên trong dĩa có 01 cái thẻ nhựa màu xanh có dòng chữ VISA, 01 cái thẻ nhựa màu cam có dòng chữ HERMES PARIS, 01 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn; 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa 06 viên nén màu hồng giao nộp nên Công an phường A tiến hành lập biên bản niêm phong và chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.

Tang vật thu giữ:

  • - 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong có chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1);
  • - 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2-1)
  • - 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa 06 viên nén màu hồng (ký hiệu M2-2);
  • - 01 dĩa sành màu trắng có in hoa văn (cánh hoa), 01 hộp quẹt gas, 01 thẻ nhựa màu xanh có chữ VISA, 01 thẻ nhựa màu cam có dòng chữ HERMES PARIS, 02 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn;
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu sơn tím, số máy MT732ZA/A, số sê ri C39XL4UPKPJ2, gắn sim số 0342639963;
  • - 01 xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh trắng đen, biển số 67C1-684.78.

Kết quả test nhanh ma túy của các đối tượng: Nguyễn Hữu Đ, Nguyễn Đình Á, Lê Huỳnh Khánh N, Nguyễn Ngọc L đều dương tính với chất ma túy loại Ketamine.

Theo kết luận giám định số 115/KL-KTHS(MT) ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) có khối lượng M1: 0,1573 gam, M2-1: 1,5456 loại Ketamine; M2-2: 2,3600 gam, loại MDMA.

Căn cứ khoản 1, Điều 5, Chương II, Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy trong trường hợp các chất ma túy không quy định trong cùng một điểm thuộc các khoản của một trong các điều (248, 249, 250...) thì tính tỷ lệ phần trăm của các chất như sau:

Ketamine = 1,7029 gam/ 20 gam x 100% = 8,51%

MDMA = 2,3600 gam/ 5 gam x 100% = 47,2%

Tổng tỷ lệ phần trăm của các chất ma túy là 55,71%

Tại bản Cáo trạng số 162/CT-VKS-TA ngày 13/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.

Đối với Nguyễn Đình Á, Lê Huỳnh Khánh N và Nguyễn Ngọc L không biết việc Nguyễn Hữu Đ có cất giấu ma túy trong người và trong phòng trọ nhưng có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự an toàn xã hội đối với Á, N và L mỗi người 1.500.000 đồng.

Đối với người đàn ông tên Q đã bán ma túy cho Đ để sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên sẽ tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng đen, biển số 67C1-684.78 của Đ mua của một người bạn tên T1 quen biết ngoài xã hội với giá 13.500.000 đồng, không có làm hợp đồng mua bán xe và không làm thủ tục sang tên. Qua xác minh, xe mô tô trên do bà Bùi Thị H đứng tên chủ sở hữu nhưng chưa xác minh, làm việc được với bà H nên đề nghị giao xe mô tô trên cho Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

01 dĩa sành màu trắng có in hoa văn (cánh hoa), 01 hộp quẹt gas, 01 thẻ nhựa màu xanh có chữ VISA, 01 thẻ nhựa màu cam có dòng chữ HERMES PARIS, 02 bì thư được niêm phong ký hiệu 115M1/PC09, 115M2/PC09 (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) là vật chứng trong vụ án và là vật cấm nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu sơn tím, số máy MT732ZA/A, số sê ri C39XL4UPKPJ2, gắn sim số 0342639963 là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội đề nghị tịch thu, sung công quỹ Nhà nước.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo trước Tòa. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người làm chứng nên Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 21/12/2023 tại trước địa chỉ Ô18A lô DC10 đường D16 khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương và địa Ô21 lô DC15 đường D37 khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương Nguyễn Hữu Đ đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 1,7029gam ma túy loại Ketamine và 2,3600 gam ma túy loại MDMA nhằm mục đích sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt giữ đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây tác hại xấu đến trật tự công cộng và an toàn xã hội. Ma túy là loại chất gây nghiện nguy hiểm, người sử dụng ma túy sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng đồng thời là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, tạo nên gánh nặng cho xã hội, gây tha hóa biến chất một bộ phận nhân dân. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo về tội danh là phù hợp. Đối với mức hình phạt, Kiểm sát viên đề nghị như trên là nhẹ so với tính chất mức độ hành vi bị cáo đã thực hiện nên Hội đồng xét xử sẽ xét xử bị cáo với mức án cao hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[6] Đối với Nguyễn Đình Á, Lê Huỳnh Khánh N và Nguyễn Ngọc L không biết việc Nguyễn Hữu Đ có cất giấu ma túy trong người và trong phòng trọ nhưng Á, N và L có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự an toàn xã hội mỗi người 1.500.000 đồng là phù hợp pháp luật.

Đối với người đàn ông tên Q đã bán ma túy cho Đ để sử dụng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên sẽ tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter 55P1 thể tích 134.4cm³ màu xanh trắng đen, biển số 67C1-684.78, số khung RLCE55P10CY106376, số máy 55P1-106380 kèm 01 kiếng và không chìa khóa, bị cáo Đ khai mua của một người bạn tên T1 quen biết ngoài xã hội với giá 13.500.000 đồng, không có làm hợp đồng mua bán xe và không làm thủ tục sang tên. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên do bà Bùi Thị H đứng tên chủ sở hữu và hiện bà H không có mặt tại nơi cư trú, không rõ đi đâu, làm gì nên chưa làm việc được nên Hội đồng xét xử sẽ giao xe mô tô trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh và xử lý theo pháp luật.

Đối với 01 dĩa sành màu trắng có in hoa văn (cánh hoa), 01 hột quẹt gas, 01 thẻ nhựa màu xanh có chữ VISA, 01 thẻ nhựa màu cam có dòng chữ HERMES PARIS là vật chứng trong vụ án, không còn giá trị sử dụng và 02 bì thư được niêm phong ký hiệu 115M1/PC09, 115M2/PC09 (là mẫu vật hoàn lại sau giám định) là vật cấm nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu sơn tím, số máy MT732ZA/A, số sê ri C39XL4UPKPJ2, gắn sim số 0342639963 là công cụ để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.

[8]. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm i khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
  • - Điều 106 và Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;
  • - Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/12/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

Giao xe môtô nhãn hiệu Yamaha Exciter 55P1 thể tích 134.4cm³ màu xanh trắng đen, biển số 67C1-684.78, số khung RLCE 55P10CY106376, số máy 55P1-106380 kèm 01 kiếng và không chìa khóa cho Công an thành phố T tiếp tục xác minh và giải quyết theo quy định pháp luật.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 02 tờ tiền polyme mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu sơn tím, số máy MT732ZA/A, số sê ri C39XL4UPKPJ2, gắn sim số 0342639963.

Tịch thu tiêu hủy 01 dĩa sành màu trắng có in hoa văn (cánh hoa), 01 hộp quẹt gas, 01 thẻ nhựa màu xanh có chữ VISA, 01 thẻ nhựa màu cam có dòng chữ HERMES PARIS, 02 bì thư được niêm phong ký hiệu 115M1/PC09, 115M2/PC09 (là mẫu vật hoàn lại sau giám định).

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/6/2024.

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Chi cục THADS thành phố Thuận An;
  • - Công an thành phố Thuận An;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, THAHS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Khánh Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 146/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 146/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN HỮU ĐỨC- TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger