|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 146/2024/HS - ST Ngày: 26/9/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ – TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thanh Vân
Bà Ngô Thị Luân
Thư ký phiên toà: Ông Phan Trọng Thắng – là Thư ký Toà án nhân dân huyện Lâm Hà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa:
Bà Trần Duy Hoàng Thao - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại Hội trường Trung tâm chính trị huyện L, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 143/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Võ Hoàng L (Võ Hoàng L1); sinh năm: 1994; tại: Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: sửa xe; trình độ văn hoá: 09/12; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: không; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ H và bà Lê Thị Thúy P; có vợ là Phan Thị Thanh N và 02 người con sinh năm 2022 và năm 2024; tiền án; tiền sự: không; nhân thân: Bản án số 117/2017/HSST ngày 21/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử phạt 06 tháng tù về tội: “Gây rối trật tự công cộng” và Bản án số 10/2018/HSST ngày 06/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xử phạt 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: ông Nông L2, sinh năm: 1962.
Địa chỉ: tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
+ Anh Nông Giang N1, sinh năm: 1994.
Địa chỉ: tổ dân phố H, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
+ Vợ chồng ông Phạm Văn M, sinh năm: 1969, bà Phạm Thị C, sinh năm: 1971.
Địa chỉ: tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Phan Thị Thanh N, sinh năm: 2000.
Địa chỉ: tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Người làm chứng: chị Phạm Thị Phương T, sinh năm: 1995.
Địa chỉ: tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
(Ông L2, anh N1 có mặt, ông M, bà C, chị N, chị T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ ngày 25/3/2024, Võ Hoàng L, nơi cư trú: tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện L đi xe mô tô hiệu Honda AirBlade, màu đen, biển kiểm soát 49D1 – 700.17 đến nhà ông Nông L2, trú tại tổ dân phố H, thị trấn Đ để sửa xe ô tô cho ông L2, trong lúc Lê sửa xe ở sân nhà ông L2 thì ông L2 đi đón cháu tan học về. Tại nhà ông L2 chỉ còn lại một mình Lê, lúc này L vào trong nhà ông L2 tìm đèn pin chiếu sáng, thì nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản, L vào phòng ngủ của ông L2 lục lọi, tìm kiếm tài sản, Lê nhìn thấy 01 (một) chiếc túi xách màu nâu của ông L2 đang treo ở tường gần cửa ra vào, thì mở túi xách ra xem thấy bên trong túi xách có số tiền 6.000.000đồng (Sáu triệu đồng) gồm 10 (mười) tờ tiền Polime mệnh giá 500.000 đồng và 05 (năm) tờ tiền Polime mệnh giá 200.000 đồng. Lê liền lấy số tiền 6.000.000đồng (Sáu triệu đồng) này và cất vào túi quần bên phải rồi đi ra ngoài tiếp tục công việc của mình. Khoảng 30 phút sau thì ông L2 đi về đến nhà, Lê ngồi nói chuyện với ông L2 một lúc rồi đi về. Sau khi chiếm đoạt số tiền trên, L dùng chi tiêu trong gia đình và tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ hai: Vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 02/04/2024, Võ Hoàng L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đen, mang biển kiểm soát 49D1-700.17 đi một mình từ nhà thuộc tổ dân phố Đ, thị trấn Đ đến nhà ông Nông L2 để lấy số đăng kiểm xe ô tô xem thông số xe đang sửa chữa cho ông L2 nhằm mục đích đến huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng đặt đồ về sửa chữa xe cho ông
L2. Khi đến nơi thấy cổng và cửa chính của nhà ông L2 không khóa, Lê gọi ông L2 nhưng không thấy ai trả lời, quan sát thấy nhà ông L2 không có ai trông coi nên Lê nảy s ý định tìm kiếm tài sản để chiếm đoạt mang bán lấy tiền tiêu xài. Lê mở cửa chính đi vào trong nhà ông L2, khi Lê đi lên lầu 2 thì thấy anh Nông Giang N1, sinh năm 1994 (là con trai của ông L2) đang ngủ ở giường, Lê phát h có 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax màu xám, loại 128 Gb của anh N1 đang để trên bàn cạnh giường anh N1 nằm ngủ, thì Lê đ đến lấy chiếc điện thoại này cất vào trong túi quần bên trái của mình rồi đi xuống sân lấy xe đi về nhà. Khi về đến nhà, Lê tắt nguồn chiếc thoại vừa chiếm đoạt được và cất giấu trong cốp xe rồi đi làm. Sau khi đi làm về, Lê lấy chiếc điện thoại chiếm đoạt được ra nhập mật khẩu nhưng không mở được do bị khóa I. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 03/4/2024, L sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 49D1-700.17 cầm theo chiếc điện thoại chiếm đoạt được của anh Nông G Ngân đến cửa hàng điện thoại di động Anh T, địa chỉ: số D, thôn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng do anh Phạm Văn T1 làm chủ để thuê mở mật khẩu I. Tại đây, sau khi anh T1 kiểm tra điện thoại và đề nghị cung cấp thông tin cá nhân của chủ tài khoản I mới mở được nhưng L không cung cấp được thông tin đăng ký của điện thoại, do đó không mở được Icloud của chiếc điện thoại này. Vì vậy, Lê lấy lại chiếc điện thoại và điều khiển xe mô tô đi về nhà.
Khoảng 07 giờ ngày 02/4/2024, anh Nông Giang N1 phát hiện bị mất điện thoại nên đã làm lại sim số điện thoại của mình và rồi gắn vào máy điện thoại của bạn là Phạm Thị Mỹ T2 để sử dụng. Đến khoảng 17 giờ ngày 07/4/2024, anh N1 được báo có người mang điện thoại đến sửa ở cửa hàng điện thoại Anh T1 nên đã cùng T2 đến liên hệ và biết được Võ Hoàng L là người đã trộm cắp chiếc điện thoại của mình, thì trình báo sự việc đến Công an thị trấn Đ. Qua làm việc Võ Hoàng L đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình và giao nộp chiếc điện thoại đã chiếm đoạt.
Ngày 23/4/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện lâm H1 kết luận định giá tài sản số 33: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, số loại Iphone Promax 128GB, màu xám trị giá 12.594.000đồng (mười hai triệu năm trăm chín mươi bốn nghìn đồng).
Lần thứ ba: Vào khoảng 19 giờ 15 phút ngày 18/5/2024, sau khi ăn cơm tối xong, Võ Hoàng Lê đ1 ở sân nhà mình tại tổ dân phố Đ, T nhà ông Phạm Văn M, nơi cư trú: tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, cách nhà Lê khoảng 20m đang mở cửa cổng và cửa hông nhà, Lê quan s1 không thấy ai ở nhà nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản nhà ông M. Do đó L đi bộ đến nhà ông M vào cổng chính rồi ra nhà
kho phía sau. Do L thường xuyên qua nhà ông M chơi và biết trong nhà ông M có lắp camera nên Lê lấy 01 (một) chiếc dù màu xanh tại nhà kho của ông M để che lên đầu tránh bị camera quay thấy mặt. Lê vào trong nhà, đến phòng khách quan sát xung quanh không thấy ai ở nhà, thì vào phòng ngủ của ông M phát hiện 01 (một) túi vải màu xám trên nền nhà ở vị trí cuối giường ngủ, Lê kiểm tra trong túi thấy ở ngăn nhỏ bên hông của túi xách có một số trang sức bằng vàng gồm: 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng có chữ Kim Ngọc 50 KIM X NGỌC 9999; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng có đính 01 viên đá màu xanh; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng có chữ Kim Ngọc 10 KIM X NGỌC 9999; 01 (một) lắc tay kim loại màu vàng có chữ MD*610D; 01 (một) dây chuyển kim loại màu vàng có đính 01 (một) viên đá màu xanh có chữ KHVM2PS610; 01 (một) dây chuyền kim loại màu vàng có chữ 980HN. Lê cầm toàn bộ số trang sức bằng vàng này cất vào túi quần Jean bên trái phía trước của mình rồi cầm dù che lên đầu và đi ra sau phía nhà kho của nhà ông M. Sau đó, Lê đi ra gốc cây mít trong vườn nhà ông M, cách nhà kho khoảng 5m, vị trí gốc cây mít này có nhiều cây cỏ rậm và L đã cất giấu số vàng vừa trộm cắp được tại đây. Sau đó, L tiếp tục cầm dù che lên đầu và đi vào trong nhà của ông M lục tìm tài sản khác để trộm cắp. Khi Lê đi vào phòng ngủ gần cửa chính của căn nhà thì thấy trong phòng đang sáng đèn, cửa phòng mở hé, Lê nhìn vào trong phòng thì thấy con gái của ông M là Phạm Thị Phương T đang ngồi sử dụng điện thoại. Thấy có người Lê che dù bỏ chạy ra ngoài rồi đi về hướng bờ hồ trước UBND huyện L. Lúc này chị T thấy có người đột nhập vào nhà mình nên đã gọi điện thoại báo cho bố mình biết. Khi ông M đi về nhà kiểm tra thì phát hiện bị mất số tài sản là vàng nêu trên và đã xem lại camera thì nhận ra Võ Hoàng L là người đột nhập vào nhà lấy trộm tài sản nên Ông M trình báo sự việc đến Cơ quan Công an, đồng thời đến nhà L gặp bố mẹ Lê nói sự việc và được trả lại toàn bộ số vàng bị chiếm đoạt. Sau đó, Võ Hoàng Lê r đầu thú và thừa nhận hành vi lấy trộm vàng tại nhà ông M.
Tang vật vụ án thu giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax 128 Gb, màu xám, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng có chữ Kim Ngọc 50 KIM X NGỌC 9999; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng có dính 01 viên đá màu xanh; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng có chữ Kim Ngọc 10 KIM X NGỌC 9999; 01 (một) lắc tay kim loại màu vàng có chữ MD*610D; 01 (một) dây chuyền kim loại màu vàng có mặt đính 01 (một) viên đá màu xanh có chữ KHVM2PS610; 01 (một) dây chuyền kim loại màu vàng có chữ 980HN;
+ 01 (một) chiếc dù có lớp che bên ngoài bằng nilong màu xanh da trời, lớp bên trong bằng nilong màu xám, cán màu đen, đã qua sử dụng.
+01 (một) thẻ nhớ Micro SD V30 nhãn hiệu Lexar, dung lượng 64 Gb;
Ngày 20/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra quyết định trưng cầu giám định số 1254 đối với tài sản bị chiếm đoạt. Ngày 26/05/2024, Phòng K Công an tỉnh L đã ban hành Bản kết luận giám định số 673/KL-KTHS, kết luận như sau:
- Một (01) nhẫn bằng kim loại màu vàng, bên trên có chữ “Kim Ngọc 50 KIM X NGOC 9999”, tổng khối lượng: 18,77g, gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (Au), hàm lượng trung bình: 99,99%
- Một (01) nhẫn bằng kim loại màu vàng, bên trên có chữ “Kim Ngọc 10 KIM X NGOC 9999”, tổng khối lượng: 3,75g, gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (Au), hàm lượng trung bình: 99,99%.
- Một (01) nhẫn bằng kim loại màu vàng, bên trên có đính một hạt màu xanh lam, có chữ “A-HO”, tổng khối lượng (kể cả hạt màu xanh): 3,23g, gửi giám định có thành phần kim loại Vàng (A): 58,45%, B (A): 25,06%, Đ (Cu): 16,18%.
- Một (01) lắc tay bằng kim loại màu vàng, bên trên có chữ “MD*610D", tổng khối lượng: 35,60g, gửi giám định có thành phần kim loại Vàng (A): 60,66%, B (A): 16,16%, Đ (Cu): 23,17%.
- Một (01) dây chuyền bằng kim loại màu vàng, bên trên có chữ “980 KL*”, “HN”, tổng khối lượng: 18,80g, gửi giám định có thành phần kim loại chủ yếu là V (Au), hàm lượng trung bình: 98,39%.
- Một (01) dây chuyền bằng kim loại màu vàng, trên sợi dây chuyền có chữ “TD610”, tổng khối lượng: 7,61g, gửi giám định có thành phần kim loại Vàng (A): 61,01%, B (A): 11,44%, Đ (Cu): 23,77%.
- Một (01) mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng, trên mặt dây chuyền có đính 01 hạt màu xanh lam, trên mặt dây chuyền có chữ “VM2 PS 610”, “36 610”, tổng khối lượng (kể cả hạt màu xanh): 3,81g, gửi giám định có thành phần kim loại Vàng (A): 61,01%, B (A): 18,97%, Đ (Cu): 19,85%.
Ngày 27/5/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện L kết luận định giá tài sản số 46/KLĐG: Tài sản định giá gồm: 01 (một) nhẫn kim loại vàng, hàm lượng trung bình: 99,99%, trọng lượng: 18,77g; 01 (một) nhẫn kim loại vàng có đính 01 viên đá màu xanh, trọng lượng 3,23g; 01 (một) nhẫn
kim loại vàng, hàm lượng trung bình: 99,99%, trọng lượng 3,75g; 01 (một) lắc tay kim loại vàng, trọng lượng 35,60g; 01 (một) mặt dây chuyền kim loại vàng có đính 01 viên đá màu xanh, trọng lượng 3,81g; 01 (một) dây chuyền kim loại vàng, hàm lượng trung bình: 98,39%, trọng lượng 18,80g; 01 (một) dây chuyền bằng kim loại vàng, trọng lượng: 7,61g. Tổng giá trị tài sản định giá là 145.574.710 (Một trăm bốn mươi lăm triệu năm trăm bảy mươi bốn nghìn bảy trăm mười đồng).
Tại bản cáo trạng số 149/CT-VKSLH ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị can Võ Hoàng L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Võ Hoàng L về tội: “Trộm cắp tài sản”; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Võ Hoàng L từ 36 đến 42 tháng tù. Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo xác định quá trình điều tra bị cáo không bị ép cung, dùng nhục hình và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng với diễn biến sự việc xảy ra. Bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với bản cáo trạng, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, tang vật thu giữ, lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và những tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở để xác định vào khoảng 16 giờ 00' ngày 25/3/2024 bị cáo Võ Hoàng L có hành vi lén lút trộm cắp tài sản là số
tiền 6.000.000 đồng của ông Nông L2 và sau đó vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 02/4/2024, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax 128 Gb, màu xám của anh Nông G N1 là con trai của ông Nông L2 tài sản theo định giá của cơ quan chức năng có giá trị là 12.594.000 đồng. Tiếp đến vào khoảng 19 giờ 15 phút ngày 18/5/2024, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi lén lút đột nhập vào nhà ông Phạm Văn M ở tổ dân phố Đ, thị trấn Đ trộm cắp 07 món nữ trang được giám định là vàng, tài sản được định giá là 145.574.710 đồng. Tổng số tiền 03 lần bị cáo trộm cắp tài sản theo định giá của cơ quan chức năng có giá trị là 164.168.710 đồng (Một trăm sáu mươi tư triệu, một trăm sáu mươi tám nghìn, bảy trăm mười đồng). Như vậy đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Võ Hoàng L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là liều lĩnh được thực hiện với lỗi cố ý và thể hiện quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây nên sự nghi ngờ mất đoàn kết trong quần chúng nhân dân, đồng thời tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã lợi dụng lúc chủ sở hữu tài sản vắng nhà, xung quanh vắng người ít ai chú ý, lén lút trộm cắp tài sản có giá trị là tiền mặt, điện thoại, vàng là loại tài sản có giá trị dễ cất giấu và dễ tiêu thụ. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: xét nhân thân bị cáo không tốt vào năm 2017 và năm 2018 bị cáo đã hai lần bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà kết án về hành vi: “Gây rối trật tự công cộng” và tội: “Trộm cắp tài sản”, sau khi chấp hành án xong được tái hòa nhập cộng đồng bị cáo không lấy đó là bài học cho bản thân, trong khoảng thời gian ngắn từ ngắn từ ngày 25/3/2024 đến ngày 18/5/2024 bị cáo liên tiếp thực hiện hành vi phạm tội cùng tính chất nhưng với mức độ nghiêm trọng hơn chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật, bị cáo phạm tội hai lần trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo với mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện cũng như răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện, tài sản bị cáo trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho bị hại, đồng thời bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, tại phiên tòa bị hại là ông Nông L2 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo Võ Hoàng L ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để bị cáo có điều kiện rèn luyện bản thân, cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, sống biết tuân thủ pháp luật cũng như răn đe phòng ngừa chung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu là vợ chồng ông Phạm Văn M, bà Phạm Thị C và anh Nông Giang Ngân G1, tại phiên tòa bị hại là vợ chồng ông M, bà C vắng mặt trong hồ sơ thể hiện ông M, bà C không có ý kiến và yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết, còn anh G1 xác định đã nhận lại tài sản và không có ý kiến và yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết. Đối với tài sản bị cáo trộm cắp của ông Nông L2 là 6.000.000đồng tiền mặt, bị cáo đã bồi thường toàn bộ cho ông Nông L2. Tại phiên tòa, ông Nông L2 không có ý kiến và yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra có tạm giữ của vợ chồng ông Phạm Văn M, bà Phạm Thị C là 01 nhẫn kim loại màu vàng có chữ Kim Ngọc 50 KIM X NGỌC 9999; 01 nhẫn kim loại màu vàng có dính 01 viên đá màu xanh; 01 nhẫn kim loại màu vàng có chữ Kim Ngọc 10 KIM X NGỌC 9999; 01 lắc tay kim loại màu vàng có chữ MD*610D; 01 dây chuyền kim loại màu vàng có mặt đính 01 viên đá màu xanh có chữ KHVM2PS610; 01 dây chuyền kim loại màu vàng có chữ 980HN; 01 chiếc dù có lớp che bên ngoài bằng nilong màu xanh da trời, lớp bên trong bằng nilong màu xám, cán màu đen và thu giữ của anh Nông G1 Ngân chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax 128 Gb, màu xám. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại toàn bộ tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp là vợ chồng ông Phạm Văn M, bà Phạm Thị C và anh Nông G1 N1 là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xet, giải quyết.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đen, mang biển kiểm soát 49D1-700.17 là tài sản do chị Phan Thị Thanh N làm chủ sở hữu, khi bị cáo lấy chiếc xe trên làm phương tiện đi trộm cắp tài sản chị N không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không tạm giữ chiếc xe trên, tại phiên tòa chị N vắng mặt, trong hồ sơ thể hiện chị N không có ý kiến và yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.
Đối với 02 đĩa DVD - R, đây là chứng cứ liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần lưu trữ trong hồ sơ vụ án.
[7]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Võ Hoàng L (Võ Hoàng L1) phạm tội: “Trộm cắp tài sản".
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Võ Hoàng L (Võ Hoàng L1) 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2024.
2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm
Bị cáo, bị hại, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/9/2024), riêng bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Sơn Linh |
Bản án số 146/2024/HS - ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ – TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 146/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ – TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Hoàng L phạm tội trộm cắp tài sản
