|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 146/2023/HS-ST Ngày: 26 - 9 - 2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Anh Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thùy Linh và ông Nguyễn Hồng Thông
Thư ký phiên toà: Ông: Phạm Xuân Quảng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
Đại diện VKSND huyện Diễn Châu tham gia phiên toà: Ông Đặng Hồng P - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 117/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 204/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2023 đối với:
Bị cáo: Họ và tên: Cao Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 22/12/2003, tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Cao Văn C và bà: Vũ Thị T1; Vợ: Ngô Thị Q- Sinh năm: 2003; Con: Có 01 người con, sinh năm 2022; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 10/5/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện D, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
-
Anh: Nguyễn Đức V, sinh ngày: 11/7/2006,
Trú tại: xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp cho anh Nguyễn Đức V là bà: Trần Thị H, sinh năm: 1975.
Trú tại: xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (mẹ đẻ của anh V). Vắng mặt.
-
Anh: Hoàng Minh Đ, sinh ngày 15/9/2006
Trú tại: xóm Đ, xã Đ, huyện Y, Nghệ An. Vắng mặt
Người đại diện hợp pháp cho anh Hoàng Minh Đ là bà: Vũ Thị H1, sinh năm: 1986.
Trú tại: xóm Đ, xã Đ, huyện Y, Nghệ An (mẹ đẻ của anh Đ). Vắng mặt.
-
Chị: Nguyễn Thị L, sinh năm 1994,
Trú tại: xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 07/5/2023, Cao Văn T, nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho một nam thanh niên có tên “Lý Đức A” với nội dung: “Anh có bán thuốc lá điện tử không”, người đó trả lời: “Có, em lấy loại nào”, T trả lời: “Lấy cho em năm chiếc Zeus, ba chiếc Sun, ba chiếc 9000 Puffs, ba chiếc Coca và một chiếc Cam dứa”; nghĩa là T hỏi mua 05 cây thuốc lá điện tử nhãn hiệu ZEUS, 03 cây thuốc lá điện tử nhãn hiệu SUN, 03 cây thuốc lá điện tử nhãn hiệu 9000 PUFFS, 03 cây thuốc lá điện tử nhãn hiệu VAPESOUL COCA COLA và 01 cây thuốc lá điện tử nhãn hiệu VAPESOUL ORANGE PINEAPPLE, nam thanh niên đó đồng ý và báo giá cho T, cụ thể: Mỗi cây thuốc lá điện tử: Loại nhãn hiệu ZEUS giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng); loại nhãn hiệu SUN giá 230.000 đồng (Hai trăm ba mươi nghìn đồng); loại nhãn hiệu 9000 PUFFS giá 90.000 đồng (Chín mươi nghìn đồng); loại nhãn hiệu VAPESOUL COCA COLA và nhãn hiệu VAPESOUL ORANGE PINEAPPLE đều giá 290.000 đồng (Hai trăm chín mươi nghìn đồng); tổng số tiền là 3.120.000 đồng (Ba triệu một trăm hai mươi nghìn đồng) thì T đồng ý. Đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày 09/5/2023, khi đang ở nhà thì có một người đến giao cho T một hộp cát tông bọc kín. T nhận hàng và trả số tiền 3.120.000 đồng (Ba triệu một trăm hai mươi nghìn đồng). Sau đó, T mở hộp cát tông ra thấy bên trong có chứa 05 cây thuốc lá điện tử nhãn hiệu ZEUS, 03 cây thuốc lá điện tử nhãn hiệu SUN, 03 cây thuốc lá điện tử nhãn hiệu 9000 PUFFS, 03 cây thuốc lá điện tử nhãn hiệu VAPESOUL COCA COLA và 01 cây thuốc lá điện tử nhãn hiệu VAPESOUL ORANGE PINEAPPLE. T lấy toàn bộ số cây thuốc lá điện tử trên cất giấu vào trong cốp xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu xanh, biển kiểm soát 37F1 - 847.34, mục đích để bán kiếm lời.
Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 10/5/2023, Nguyễn Đức V nhắn tin qua ứng dụng Messenger từ tài khoản Facebook của V là “Nguyễn Đức V” cho Cao Văn T có tài khoản Facebook là “Thịnh Niêm” với nội dung hỏi mua 01 cây thuốc lá điện tử có nhãn hiệu ZEUS loại 550.000 đồng, T đồng ý rồi hỏi V: “Bao giờ lấy thuốc lá điện tử”, V trả lời: “Bây giờ anh đưa đến quán trà chanh B Phố gần khu vực Cầu L cho em”. T trả lời: “Lát nữa em nhá, tầm hai giờ anh mang qua”. Sau đó, T gửi số tài khoản ngân hàng của T cho V và yêu cầu V chuyển tiền. Trong khi V đợi T tại quán T2 Phố gần khu vực Cầu L thuộc xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì V gặp Hoàng Minh Đ, sinh năm 2006, trú tại xóm Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An. V nhờ Đ chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho T số tiền 550.000 đồng. Sau khi Đ chuyển tiền xong thì V trả cho Đ số tiền 550.000 đồng và V nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho T là đã chuyển khoản rồi. Đến khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô đi đến quán T2 gặp và đưa cho V 01 hộp giấy bên ngoài có nhiều màu sắc, có chữ nước ngoài, nhãn hiệu ZEUS, bên trong có chứa 01 dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử màu đen, hình trụ tròn, có nhãn hiệu SI CHILL. V cầm hộp giấy chứa cây thuốc lá điện tử, còn T đi về nhà. Đến khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, khi T đi về đến khu vực đường Q thuộc thôn G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì bị Tổ công tác Công an huyện D kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ tại cốp xe máy nhãn hiệu Honda SH biển kiểm soát 37F1 – 847.34 của T 14 hộp giấy, bên ngoài mỗi hộp đều có nhiều màu sắc, có chữ nước ngoài, gồm các loại nhãn hiệu ZEUS, SI CHILL, SUN, VAPESOUL COCA COLA, VAPESOUL ORANGE PINEAPPLE, 9000 PUFFS, bên trong mỗi hộp đều chứa 01 dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử dạng hình trụ tròn. Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng và dẫn giải người cùng tang vật về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Ngày 10/5/2023, Nguyễn Đức V đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Nghệ An để làm việc và khai nhận V mua thuốc lá điện tử của Cao Văn T, đồng thời giao nộp 01 hộp giấy bên ngoài có nhiều màu sắc, có chữ nước ngoài, nhãn hiệu ZEUS, bên trong có chứa 01 dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử màu đen, hình trụ tròn, có nhãn hiệu SI CHILL.
Ngày 12/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Nghệ An đã gửi toàn bộ 14 hộp giấy có nhiều màu sắc có chữ nước ngoài, bên trong mỗi hộp đều chứa dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử, hình trụ tròn, bên trong nghi có chứa chất ma tuý thu giữ của Cao Văn T và 01 hộp giấy bên ngoài có nhiều màu sắc, có chữ nước ngoài, nhãn hiệu ZEUS, bên trong có chứa 01 dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử màu đen, hình trụ tròn, có nhãn hiệu SI CHILL, bên trong nghi có chứa chất ma tuý, thu giữ của Nguyễn Đức V đến V1 Bộ C1 để giám định. Trong đó, phân loại và đánh số thứ tự từ 01 đến 05 đối với các mẫu gửi giám định thu giữ của Cao Văn T có đặc điểm hộp bên ngoài lần lượt là: ZEUS, SUN, VAPESOUL COCA COLA, VAPESOUL ORANGE PINEAPPLE và 9000 PUFFS.
Tại Kết luận giám định số 3534/KL-KTHS ngày 12/5/2023 của V1 Bộ C1, kết luận:
-
Mẫu thu của Cao Văn T:
- + Tìm thấy chất ma túy ADB – BUTINACA trong mẫu ký hiệu 01, 02 và 05 gửi giám định.
- + Tìm thấy chất ma túy ADB – BUTINACA và MDMB-4en-PINACA trong mẫu ký hiệu 03 và 04 gửi giám định.
- Mẫu vật thu giữ của Nguyễn Đức V: Tìm thấy chất ma túy ADB – BUTINACA trong mẫu gửi giám định.
MDMB-4en-PINACA nằm trong danh mục IIC, số thứ tự 241, nghị định số 57/2022/NĐ-CP.
ADB – BUTINACA nằm trong danh mục IIC, số thứ tự 92, nghị định số 57/2022/NĐ-CP.
- Hiện nay, V1 chưa có mẫu chuẩn định lượng ADB – BUTINACA và MDMB-4en-PINACA nên không thể xác định được khối lượng chất ma túy ADB – BUTINACA và MDMB-4en-PINACA trong các mẫu gửi giám định.
Tại cơ quan điều tra, Cao Văn T đã khai nhận đầy đủ hành vi của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 120/CT-VKS-DC ngày 11/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu để xét xử bị cáo Cao Văn T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1, Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng: khoản 1, Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo Cao Văn T từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Ngoài ra, còn đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Đề nghị tịch thu tiêu hủy Thuốc lá điện tử: Mẫu ký hiệu 01: 04 (Bốn) hộp giấy có đặc điểm giống nhau, bên ngoài mỗi hộp đều có màu sắc sặc sỡ, có chữ nước ngoài, nhãn hiệu ZEUS, bên trong mỗi hộp đều chứa 01 (Một) dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử màu đen, hình trụ tròn, có nhãn hiệu SI CHILL có tổng khối lượng 119,664 gam; Mẫu ký hiệu 02: 03 (Ba) hộp giấy có đặc điểm giống nhau, bên ngoài mỗi hộp đều có màu sắc sặc sỡ, có chữ nước ngoài, nhãn hiệu SUN, bên trong mỗi hộp đều chứa 01 (Một) dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử màu đen, hình trụ tròn, có nhãn hiệu SUN có tổng khối lượng 78,903 gam; Mẫu ký hiệu 03: 03 (Ba) hộp giấy có đặc điểm giống nhau, bên ngoài mỗi hộp đều có màu sắc sặc sỡ, có chữ nước ngoài, nhãn hiệu VAPESOUL COCA COLA, bên trong mỗi hộp đều chứa 01 (Một) dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử màu cam, hình trụ tròn, có nhãn hiệu VAPESOUL COCA COLA có tổng khối lượng 115,827 gam; Mẫu ký hiệu 04: 01 (Một) hộp giấy bên ngoài có màu sắc nổi mẩn, có chữ nước ngoài, nhãn hiệu VAPESOUL ORANGE PINEAPPLE, bên trong có chứa 01 (Một) dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử màu cam, hình trụ tròn, có nhãn hiệu VAPESOUL ORANGE PINEAPPLE có khối lượng 38,648 gam; Mẫu ký hiệu 05: 03 (Ba) hộp giấy có điểm đặc biệt giống nhau, bên ngoài mỗi hộp đều có màu sắc sặc sỡ, có chữ nước ngoài, nhãn hiệu 9000 PUFFS, bên trong mỗi hộp đều chứa 01 (Một) dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử màu sắc sặc sỡ, hình trụ tròn có tổng khối lượng 288,498 gam; Thuốc lá điện tử mẫu thu của Nguyễn Đức V: 01 (Một) dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử màu đen, hình trụ tròn, có nhãn hiệu SI CHILL, có khối lượng 29,916 gam. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI1: 353904104813973, số IMEI2: 353904104969510, thu giữ của Cao Văn T. Toàn bộ vật chứng có tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Đề nghị truy thu của bị cáo số tiền 550.000 đồng (năm trăm năm mươi nghìn đồng) nộp ngân sách Nhà nước. Về án phí: đề nghị áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về hoạt động điều tra, truy tố. Tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các văn bản, tài liệu, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện có tại hồ sơ vụ án là đúng quy định pháp luật.
[1.2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng họ vẫn vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của BLTTHS năm 2015 HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án là đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét hành vi phạm tội: Tại phiên toà, bị cáo Cao Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra và lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nội dung cáo trạng đã truy tố, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu điều tra khác có tại hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 10/5/2023, tại quán T2 Phố gần khu vực Cầu L thuộc xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Cao Văn T đã có hành vi bán cho Nguyễn Đức V 01 (Một) dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử nhãn hiệu SI CHILL, bên trong có chứa chất ma tuý ADB – BUTINACA, với số tiền 550.000 đồng (Năm trăm năm mươi nghìn đồng). Đến khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, khi T đi về đến khu vực đường Q thuộc thôn G, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì bị Tổ công tác Công an huyện D, tỉnh Nghệ An kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang; thu giữ 14 (Mười bốn) dụng cụ thuốc lá điện tử đều có chứa chất ma túy. Cao Văn T biết được bên trong các dụng cụ thuốc lá điện tử có chứa chất ma túy nhưng vẫn cố ý bán trái phép cho người khác nhằm mục đích để kiếm lời. Hành vi đó của Cao Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoan 1, Điều 251 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2.2] Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Ma túy có tác hại rất lớn đối với sức khỏe của con người, làm suy đồi giống nòi và ảnh hưởng đến đạo đức, thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc, ngoài ra ma túy là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội và một số loại tội phạm khác nên nhà nước ta đặc biệt nghiêm cấm. Bị cáo nhận thức được Thuốc lá điện tử là loại mô phỏng hình dạng và chức năng của thuốc lá thông thường, hoạt động bằng cách sử dụng thiết bị điện tử có hệ thống pin sạc làm nóng dung dịch lỏng hòa tan, tạo ra dạng khí dung cho người dùng hít vào luồng hơi có mùi vị và cảm giác giống thuốc lá thật. Hầu hết các mẫu thuốc lá điện tử hiện nay sử dụng ống chứa dung dịch - loại dùng một lần hoặc có thể bơm dịch vào để dùng tiếp. Dung dịch này thường chứa nicotine, chất tạo hương, propylene glycol và glycerin thực vật. Tuy nhiên, tình trạng tội phạm ma túy trộn các loại ma túy và các chất kích khác vào các sản phẩm thuốc lá điện tử và hướng vào đối tượng học sinh, sinh viên và giới trẻ hiện nay đang rất phức tạp. Khi thuốc lá điện tử phối trộn thêm các chất lạ, chất kích thích, ma túy thì không thể lường trước được hậu quả và có thể dẫn tới những hệ lụy đau lòng, trong khi đối tượng sử dụng hầu hết là người trẻ, học sinh...Mặc dù thuốc lá điện tử chứa chất ma túy gây ra nhiều hệ lụy đau lòng và tác hại rất lớn đối với sức khỏe của con người như vậy nhưng do hám lợi bất chính và coi thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[2.3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của BLHS nên cần áp dụng để giảm nhẹ một phần cho bị cáo khi lượng hình phạt và xử phạt bị cáo ở mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[2.4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 BLHS, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Nhưng xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định và không có tài sản riêng gì lớn nên miễn, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[2.5] Về vật chứng vụ án: Đối với Thuốc lá điện tử: Mẫu ký hiệu 01: 04 (Bốn) hộp giấy có đặc điểm giống nhau, bên ngoài mỗi hộp đều có màu sắc sặc sỡ, có chữ nước ngoài, nhãn hiệu ZEUS, bên trong mỗi hộp đều chứa 01 (Một) dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử màu đen, hình trụ tròn, có nhãn hiệu SI CHILL có tổng khối lượng 119,664 gam; Mẫu ký hiệu 02: 03 (Ba) hộp giấy có đặc điểm giống nhau, bên ngoài mỗi hộp đều có màu sắc sặc sỡ, có chữ nước ngoài, nhãn hiệu SUN, bên trong mỗi hộp đều chứa 01 (Một) dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử màu đen, hình trụ tròn, có nhãn hiệu SUN có tổng khối lượng 78,903 gam; Mẫu ký hiệu 03: 03 (Ba) hộp giấy có đặc điểm giống nhau, bên ngoài mỗi hộp đều có màu sắc sặc sỡ, có chữ nước ngoài, nhãn hiệu VAPESOUL COCA COLA, bên trong mỗi hộp đều chứa 01 (Một) dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử màu cam, hình trụ tròn, có nhãn hiệu VAPESOUL COCA COLA có tổng khối lượng 115,827 gam; Mẫu ký hiệu 04: 01 (Một) hộp giấy bên ngoài có màu sắc nổi mẩn, có chữ nước ngoài, nhãn hiệu VAPESOUL ORANGE PINEAPPLE, bên trong có chứa 01 (Một) dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử màu cam, hình trụ tròn, có nhãn hiệu VAPESOUL ORANGE PINEAPPLE có khối lượng 38,648 gam; Mẫu ký hiệu 05: 03 (Ba) hộp giấy có điểm đặc biệt giống nhau, bên ngoài mỗi hộp đều có màu sắc sặc sỡ, có chữ nước ngoài, nhãn hiệu 9000 PUFFS, bên trong mỗi hộp đều chứa 01 (Một) dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử màu sắc sặc sỡ, hình trụ tròn có tổng khối lượng 288,498 gam thu giữ của bị cáo và mẫu 01 dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử màu đen, hình trụ tròn, có nhãn hiệu SI CHILL, có khối lượng 29,916 gam thu giữ của Nguyễn Đức V là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI1: 353904104813973, số IMEI2: 353904104969510, thu giữ của Cao Văn T là phương tiện bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán thuốc lá điện tử chứa chất ma túy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước. Toàn bộ Vật chứng hiện có tại Kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện D.
Đối với số tiền 550.000 đồng (năm trăm năm mươi nghìn đồng) do bán thuốc lá điện tử chứa chất ma túy mà có, đây là tiền thu lợi bất chính phát sinh từ tội phạm. Quá trình điều tra bị cáo chưa giao nộp, cần truy thu của bị cáo để nộp ngân sách nhà nước.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH màu xanh, đã qua sử dụng, biển kiểm soát 37F1 – 847.34 thu giữ khi bắt quả tang Cao Văn T. Quá trình điều tra, xác định xe mô tô trên là của chị Nguyễn Thị L. Việc T sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội chị L không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D đã trả lại xe mô tô nói trên cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.
[3] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong vụ án này, đối với Nguyễn Đức V (Sinh ngày 11/7/2006) là người mua của Cao Văn T 01 (Một) dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử, hình trụ tròn, bên trong có chứa chất ma tuý ADB – BUTINACA để sử dụng. Tuy nhiên, Nguyễn Đức V không nhận thức được dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử đó bên trong có chứa chất ma túy mà chỉ nghĩ là thuốc lá điện tử thông thường. Mặt khác, V đang là học sinh, sau khi được triệu tập làm việc, đã tự nguyện giao nộp dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử cho Cơ quan CSĐT Công an huyện D. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện D không xem xét xử lý.
Đối với người đàn ông có tên Z là “Lý Đức A”, là người bán dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử chứa ma túy cho Cao Văn T (theo lời khai của T), do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với Hoàng Minh Đ là người được V nhờ chuyển tiền qua tài khoản Ngân hàng cho Cao Văn T nhưng Đ không biết mục đích của việc chuyển tiền nên không đồng phạm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Cao Văn T 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 10/5/2023. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 2, Điều 106 của BLTTHS năm 2015; điểm a, khoản 1, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy Thuốc lá điện tử: Mẫu ký hiệu 01: 04 (Bốn) hộp giấy có đặc điểm giống nhau, bên ngoài mỗi hộp đều có màu sắc sặc sỡ, có chữ nước ngoài, nhãn hiệu ZEUS, bên trong mỗi hộp đều chứa 01 (Một) dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử màu đen, hình trụ tròn, có nhãn hiệu SI CHILL có tổng khối lượng 119,664 gam; Mẫu ký hiệu 02: 03 (Ba) hộp giấy có đặc điểm giống nhau, bên ngoài mỗi hộp đều có màu sắc sặc sỡ, có chữ nước ngoài, nhãn hiệu SUN, bên trong mỗi hộp đều chứa 01 (Một) dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử màu đen, hình trụ tròn, có nhãn hiệu SUN có tổng khối lượng 78,903 gam; Mẫu ký hiệu 03: 03 (Ba) hộp giấy có đặc điểm giống nhau, bên ngoài mỗi hộp đều có màu sắc sặc sỡ, có chữ nước ngoài, nhãn hiệu VAPESOUL COCA COLA, bên trong mỗi hộp đều chứa 01 (Một) dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử màu cam, hình trụ tròn, có nhãn hiệu VAPESOUL COCA COLA có tổng khối lượng 115,827 gam; Mẫu ký hiệu 04: 01 (Một) hộp giấy bên ngoài có màu sắc nổi mẩn, có chữ nước ngoài, nhãn hiệu VAPESOUL ORANGE PINEAPPLE, bên trong có chứa 01 (Một) dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử màu cam, hình trụ tròn, có nhãn hiệu VAPESOUL ORANGE PINEAPPLE có khối lượng 38,648 gam; Mẫu ký hiệu 05: 03 (Ba) hộp giấy có điểm đặc biệt giống nhau, bên ngoài mỗi hộp đều có màu sắc sặc sỡ, có chữ nước ngoài, nhãn hiệu 9000 PUFFS, bên trong mỗi hộp đều chứa 01 (Một) dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử màu sắc sặc sỡ, hình trụ tròn có tổng khối lượng 288,498 gam thu giữ của bị cáo và mẫu 01 dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử màu đen, hình trụ tròn, có nhãn hiệu SI CHILL, có khối lượng 29,916 gam thu giữ của Nguyễn Đức V
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI1: 353904104813973, số IMEI2: 353904104969510, thu giữ của Cao Văn T.
Toàn bộ Vật chứng có tại Kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu theo phiếu nhập kho số NK 0154 ngày 16 tháng 8 năm 2023.
Truy thu của bị cáo Cao Văn T số tiền 550.000 đồng (năm trăm năm mươi nghìn đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Cao Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331; 332; 333; 334 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Anh Sơn |
Bản án số 146/2023/HS-ST ngày 26/09/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 146/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 10/5/2023, tại quán trà chanh Bụi Phố gần khu vực Cầu Lồi thuộc xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Cao Văn T đã có hành vi bán cho Nguyễn Đức V 01 (Một) dụng cụ sử dụng thuốc lá điện tử nhãn hiệu SI CHILL, bên trong có chứa chất ma tuý ADB – BUTINACA, với số tiền 550.000 đồng (Năm trăm năm mươi nghìn đồng). Đến khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, khi Thịnh đi về đến khu vực đường Quốc lộ 1A thuộc thôn 7, xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An thì bị Tổ công tác Công an huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang; thu giữ 14 (Mười bốn) dụng cụ thuốc lá điện tử đều có chứa chất ma túy. Cao Văn T biết được bên trong các dụng cụ thuốc lá điện tử có chứa chất ma túy nhưng vẫn cố ý bán trái phép cho người khác nhằm mục đích để kiếm lời
