TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 146/2024/DS-ST
Ngày: 26-7-2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thúy Liễu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đỗ Thiết Lập
- Ông Trần Hữu Tiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 166/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần (TMCP ); địa chỉ: Số B - B, đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: chị Nguyễn Thị Thúy A– Trưởng bộ phận quản lý tín dụng và KSRR (Văn bản ủy quyền số 041/2024/GUQ-PGĐ.TC ngày 14/6/2024).
- Bị đơn: anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1992; địa chỉ: Ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Chị Nguyễn Thị Thúy A có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Văn M vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/3/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 17/4/2023 anh Nguyễn Văn M ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân; Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ cá nhân) với Ngân hàng TMCP S. Theo hợp đồng, Ngân hàng cấp thẻ tín dụng với hạn mức 50.000.000 đồng cho anh M, mục đích để tiêu dùng cá nhân, cụ thể:
- Loại thẻ: thẻ tín dụng
- Số thẻ: 970403-0029
- Số tài khoản thẻ: 3650666559
- Ngày đến hạn thanh toán: ngày 15 hàng tháng
- Lãi suất phát hành thẻ: 33,2%/năm.
Sau khi cấp thẻ anh M đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 47.100.000 đồng. Từ khi kích hoạt thẻ cho đến nay anh M đã thanh toán cho Ngân hàng được số tiền 4.376.542 đồng. Do anh M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 15/02/2024 Ngân hàng đã chấp dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.
Tại mục 1.36 Điều 1 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng có hiệu lực từ ngày 06/12/2023 quy định: dư nợ quá hạn là dư nợ được xác định sau kỳ thông báo giao dịch lần thứ 4 liên tiếp mà chủ thẻ không thanh toán đủ số tiền tối thiểu theo quy định của Ngân hàng TMCP S. Trong trường hợp của anh M thì Ngân hàng xác định như sau:
- Số tiền anh M giao dịch tính đến lần cuối vào ngày 15/5/2023 là: 47.100.000 đồng; tiền phí chưa thanh toán là 299.000 đồng; nợ cuối kỳ là 47.399.000 đồng;
- Ngày 15/6/2023: cộng thêm tiền phí và tiền lãi trong hạn chưa thanh toán là 2.544.451 đồng, trả được 1.421.970 đồng, nợ cuối kỳ là 48.521.481 đồng;
- Ngày 15/7/2023: cộng thêm tiền phí và tiền lãi trong hạn chưa thanh toán là 1.442.778 đồng; nợ cuối kỳ là 49.964.259 đồng;
- Ngày 15/8/2023: cộng thêm tiền lãi trong hạn chưa thanh toán là 1.414.793 đồng; trả được 2.954.572 đồng, nợ cuối kỳ là 48.424.480 đồng;
- Trong 4 ký liên tiếp từ ngày 15/9/2023 đến ngày 15/12/2023 anh M không thanh toán tiền lãi trong hạn số tiền 5.720.258 đồng, cũng như không thanh toán phí trể hạn số tiền 1.374.275 đồng. Như vậy, dư nợ gốc của anh M đến ngày 15/12/2023 là 55.519.013 đồng.
Nay Ngân hàng yêu cầu anh M trả cho ngân hàng các khoản tiền sau đây:
- Dư nợ gốc: 55.519.013 đồng;
- Tiền lãi quá hạn từ ngày 15/01/2024 đến ngày 26/7/2024 là 17.199.392 đồng (lãi suất 150% lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng).
Tổng cộng là 72.718.405 đồng và tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Anh Nguyễn Văn M không đến Tòa án, không có ý kiến trình bày.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa sơ thẩm dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Riêng bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- Về nội dung: Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S buộc anh Nguyễn Văn M có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc 55.519.013 đồng, lãi theo thỏa thuận hợp đồng và phí theo quy định.
- Về án phí: anh M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: đại diện ngân hàng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh Nguyễn Văn M đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng không đến Tòa án nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[2] Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 17/4/2023 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S với anh Nguyễn Văn M với nội dung: cấp hạn mức thẻ tín dụng cho anh M số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 33,2%/năm là trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ các quy định của pháp luật về hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng nên các bên tham gia giao dịch có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đã ký kết nói trên.
[3] Theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nếu có phản đối yêu cầu của người khác đối với mình thì phải thể hiện bằng văn bản và phải cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó, anh M từ khi thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử đã được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhưng không đến Tòa án nên vụ án sẽ được giải quyết theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ.
[4] Quá trình thực hiện hợp đồng, anh M không thanh toán nợ đầy đủ, đã vi phạm theo hợp đồng sử dụng thẻ. Theo bảng tính lãi Ngân hàng cung cấp, đến ngày 15/12/2023 dư nợ gốc của anh M là 55.519.013 đồng, Ngân hàng TMCP S yêu cầu anh M trả số tiền trên là phù hợp với Điều 463 và 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Về lãi suất: do anh M vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 15/01/2024. Tiền lãi quá hạn với mức lãi suất bằng 150% lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng từ ngày 15/01/2024 đến ngày 26/7/2024 là 17.909.533 đồng, nội dung này phù hợp quy định của Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân; Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ cá nhân; Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất thì Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đang có hiệu lực pháp luật); Điều 7, Điều 8, khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019 NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, anh Nguyễn Văn M còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 17/4/2023; Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ cá nhân giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần S và anh Nguyễn Văn M. Trường hợp các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
[6] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh là có căn cứ.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Anh Nguyễn Văn M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 72.718.405 đồng x 5% = 3.635.000 đồng (ba triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng Thương mại cổ phần S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.579.000 đồng (một triệu năm trăm bảy mươi chín nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006075 ngày 12/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 91, 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự 2015;
Khoản 2 Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Điều 7, Điều 8, khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019 NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Ngân hàng Thương mại cổ phần S đối với anh Nguyễn Văn M.
Buộc anh Nguyễn Văn M có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tổng cộng là 72.718.405 đồng (bảy mươi hai triệu bảy trăm mười tám nghìn bốn trăm lẽ năm đồng), trong đó dư nợ gốc là 55.519.013 đồng; tiền lãi quá hạn từ ngày 15/01/2024 đến ngày 26/7/2024 là 17.199.392 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, anh Nguyễn Văn M còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ngày 17/4/2023; Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ cá nhân giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và anh Nguyễn Văn M. Trường hợp các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
2. Về án phí:
Anh Nguyễn Văn M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 3.635.000 đồng (ba triệu sáu trăm ba mươi lăm nghìn đồng).
Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng Thương mại cổ phần S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.579.000 đồng (một triệu năm trăm bảy mươi chín nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006075 ngày 12/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Nguyên đơn;
- Bị đơn;
- VKSND h Tân Châu;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
Bản án số 146/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 146/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng tín dụng
