Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 146/2024/HS-ST

Ngày 25-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Thúy.

Ông Nguyễn Văn Chức.

- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 146/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Quàng Văn T, sinh ngày 16/8/2005, tại thị trấn Í, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Tiểu khu N, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn L, đã chết và con bà Quàng Thị A, sinh năm 1976; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không có; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đỗ Văn T1. Luật sư - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm T2, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Quàng Văn K, sinh ngày 04/9/2008, địa chỉ: Tiểu khu N, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của Quàng Văn K: Bà Quàng Thị L1 là mẹ, địa chỉ: Tiểu khu N, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Anh Hà Thanh X, sinh năm 1992, địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Quàng Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào hồi 13 giờ 35 phút ngày 03/6/2024, tại tiểu khu D, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La, Công an phát hiện và bắt quả tang Quàng Văn T, sinh ngày 16/8/2005 và Quàng Văn K, sinh ngày 04/9/2008 (15 tuổi 8 tháng 29 ngày) đều ở tiểu khu N, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ do Quàng Văn T tự giác lấy từ trong tay bên phải giao nộp: 01 gói được gói bằng nilon màu xanh bên trong có chứa cục bột màu trắng, Quàng Văn T khai là H để sử dụng.

01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu DETECH, màu nâu xám trắng, BKS 26AA-167.42, xe qua sử dụng, thu của Quàng Văn K.

Ngày 03/6/2024 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:

Vật chứng thu giữ do Quàng Văn T tự giác giao nộp: 01 gói được gói bằng nilon màu xanh bên trong có chứa cục bột màu trắng, Quàng Văn T khai là H để sử dụng, có khối lượng 0,18 gam, lấy 0,08 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu KT.

Cơ quan Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 1218/KL-KTHS ngày 06/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S, kết luận:

Mẫu ký hiệu KT là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định là 0,08 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 0,18 gam Heroine;

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Quàng Văn T, người bào chữa không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Quá trình điều tra Quàng Văn T và Quàng Văn K khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 03/6/2024 Quàng Văn T đi bộ ra ngoài đường gặp Quàng Văn K, sinh ngày 04/9/2008, địa chỉ: Tiểu khu N, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La đi xe mô tô nhãn hiệu DETECH, màu nâu xám trắng, BKS 26AA-167.42 (là em họ) nói với nhau chở đến nhà ông N ở bản C, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La để mua ma túy cùng sử dụng. Quàng Văn K đồng ý và hai người đến nhà ông N, tại đây Quàng Văn T đưa cho ông N 200.000, đồng. Ông N đi ra ngoài một lúc quay lại đưa cho 02 gói Heroine và cắt lại một phần là công đi mua, phần còn lại cho chung vào một gói đưa cho Quàng Văn T. Quàng Văn T cầm trong tay bên phải đi về

2

cùng Quàng Văn K, đến khu vực tiểu khu D, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La, Công an phát hiện và bắt quả tang cùng vật chứng.

Về nguồn gốc ma túy Quàng Văn T khai mua của một người đàn ông tên N ở bản C, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La với số tiền 200.000, đồng. Điều tra về người bán ma túy là Lò Văn N1, sinh năm 1978, hiện không có mặt tại địa phương, Cơ quan Công an tách ra để điều tra, xác minh sau.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Quàng Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Bản cáo trạng số: 111/CT-VKS-ML ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Quàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm đ “Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội” khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Quàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Quàng Văn T từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù;

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu xanh; 0,10 gam Heroine (đều được niêm phong).

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu DETECH, màu nâu xám trắng, BKS 26AA-167.42, xe qua sử dụng là phương tiện thu giữ của Quàng Văn K dùng làm phương tiện phạm tội. Được xác định Quàng Văn K thuê của anh Hà Thanh X, sinh năm 1992, địa chỉ: Tiểu khu B, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Anh Hà Thanh X không biết Quàng Văn K dùng xe đi mua ma túy, cần trả lại xe cho anh Hà Thanh X.

Đối với Quàng Văn K, sinh ngày 04/9/2008 (15 tuổi 8 tháng 29 ngày), địa chỉ: Tiểu khu N, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Được xác định chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Đã được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường. Sau đó đã được áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do thuộc hộ nghèo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

3

Người bào chữa cho bị cáo phát biểu ý kiến bào chữa đưa ra các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Bị cáo Quàng Văn T thừa nhận: Hồi 13 giờ 35 phút ngày 03/6/2024, tại tiểu khu D, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La đã thực hiện hành vi cùng với Quàng Văn K, sinh ngày 04/9/2008 (15 tuổi 8 tháng 29 ngày), địa chỉ: Tiểu khu N, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La cất giữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,18 gam, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định; lời khai của người liên quan, người làm chứng.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Quàng Văn T đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm đ “Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội” khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, cần có mức hình phạt nhằm giáo dục bị cáo.

Bị cáo có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4

[3]. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu xanh; 0,10 gam Heroine (đều được niêm phong).

Trả lại cho anh Hà Thanh X: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu DETECH, màu nâu xám trắng, BKS 26AA-167.42, xe qua sử dụng là phương tiện bị cáo Quàng Văn T và Quàng Văn K dùng làm phương tiện đi mua ma túy, được xác định xe do Quàng Văn K thuê của anh Hà Thanh X, khi sử dụng xe đi mua ma túy anh Hà Thanh X không biết.

[4]. Về vấn đề liên quan khác:

Về nguồn gốc ma túy Quàng Văn T khai mua của một người đàn ông tên N1 ở bản C, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La với số tiền 200.000, đồng. Điều tra về người bán ma túy là Lò Văn N1, sinh năm 1978, hiện không có mặt tại địa phương, Cơ quan Công an tách ra để điều tra, xác minh sau, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.

Đối với khoản tiền thuê xe máy giữa anh Hà Thanh X và Quàng Văn K: Bà Quàng Thị L1 là mẹ của Quàng Văn K đã thanh toán trả cho anh Hà Thanh X 300.000, đồng. Cần chấp nhận.

Đối với Quàng Văn K, sinh ngày 04/9/2008 (15 tuổi 8 tháng 29 ngày), địa chỉ: Tiểu khu N, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Được xác định chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Đã được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường. Sau đó đã được áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G, là thỏa đáng.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do thuộc hộ nghèo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm đ “Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội” khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

    Tuyên bố Quàng Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

    Xử phạt bị cáo Quàng Văn T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 03/6/2024.

    Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu xanh; 0,10 (không phẩy một không) gam Heroine (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 03/6/2024).

Trả lại cho anh Hà Thanh X: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu DETECH, màu nâu xám trắng, BKS 26AA-167.42, số khung RPEVCVSPEKA 461798, số máy VDEJQ139FMB-3461798, xe cũ qua sử dụng, không kiểm tra máy móc bên trong (theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 03/6/2024).

Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

Chấp nhận việc bà Quàng Thị L1 trả cho anh Hà Thanh X tiền Quàng Văn K thuê xe là 300.000, đồng và anh Hà Thanh X không yêu cầu bồi thường gì thêm.

  1. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

    Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quàng Văn T.

Bị cáo, bà Quàng Thị L1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 25/9/2024. Anh Hà Thanh X được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Mường La (2);
  • - Công an huyện Mường La;
  • - THAHS;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Mường La;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

Nguyễn Minh Tuấn

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 146/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 146/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự số 146, ngày 25/9/2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger