|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 146/2024/DS-ST Ngày 23 tháng 9 năm 2024 V/v tranh chấp “Quyền sử dụng đất, chia thừa kế" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Phụng.
- Ông Nguyễn Thanh Liêm.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Tường Vi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 195/2015/TLDS-ST ngày 02 tháng 6 năm 2015 về tranh chấp “Quyền sử dụng đất, chia thừa kế”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 874/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
- Bà Lê Thị T, sinh năm 1956; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; (có mặt).
- Bà Lê Thị H, sinh năm 1962; địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang, (có mặt).
- Bà Lê Thị B, sinh năm 1966; địa chỉ: Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang, (có mặt).
- Bà Lê Thị K, sinh năm 1972; địa chỉ: Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang, (có mặt).
- Bà Lê Thị N, sinh năm 1976; địa chỉ: Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang, (có mặt).
2. Bị đơn:
- Ông Lê Văn N1, sinh năm 1970; địa chỉ: Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang; (có đơn xin vắng mặt).
- Ông Võ Quang N2, sinh năm 1958; (vắng mặt).
- Bà Mai Thị G, sinh năm 1960; (chết 2018).
- Bà Trần Thị Cẩm C; (vắng mặt).
- Bà Lê Thị N3, sinh năm 1964, (có mặt).
- Ông Lê Văn L, sinh năm 1959.
- Bà Lê Thị L1, sinh năm 1960.
- Ông Trần Văn D, sinh năm 1954; địa chỉ: C ngụ tại Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang.
- Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1985; (vắng mặt).
- Ông Trần Văn T1, sinh năm 1982; địa chỉ cùng ngụ: Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền hợp pháp của ông D và bà L1. Có ông Lê Văn L, sinh năm 1959; địa chỉ: Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang (Văn bản ủy ngày 29/7/2015), (vắng mặt).
- Ông Trần Văn B1, sinh năm 1951; địa chỉ: Số B, ấp A, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, (vắng mặt).
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Mai Thị G (chết năm 2018).
- Ông Võ Văn L2, sinh năm 1981.
- Bà Võ Thị T2, sinh năm 1985.
- Bà Võ Thị D1, sinh năm 1987.
- Bà Võ Thị N4, sinh năm 1989; địa chỉ: cùng ngụ tại: Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang, (cùng vắng mặt).
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: (chung hộ khẩu với ông Võ Văn L2).
- Bà Huỳnh Kim T3, sinh năm 1982 (vợ ông L2) (có đơn xin vắng mặt);
- Em Võ Phú Q, sinh năm 2002 (con ông L2);
- Em Võ Thị Tuyết N5, sinh năm 2005 (con ông L2); địa chỉ: cùng ngụ tại: Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang; (cùng vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, các nguyên đơn bà Lê Thị T, Lê Thị B, Lê Thị H, Lê Thi K1 và bà Lê Thị N: Trình bày nguồn gốc đất tranh chấp của cha mẹ là ông Lê Văn L3 (chết 1997) mẹ Nguyễn Thị C1 (chết 2012); lúc sinh thời cha mẹ có 11 người con gồm: Các ông, bà Lê Thị T, Lê Thị H, Lê Thị B, Lê Thị K, Lê Thị N, Lê Văn N1, Lê Văn L, Lê Thị N3, Lê Thị L1 và 02 người con riêng của bà C1 là Trần Văn D, Trần Văn B1. Các bà yêu cầu chia thừa kế đối với diện tích 12.552m² đất nông nghiệp, cây lâu năm do ông Lê Văn L3 đứng tên; đất tọa lạc tại Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang; chia cho 06 người, thành 06 phần bằng nhau gồm: Các ông, bà T, B, H, K, N và ông N1 vì những người này lúc cha mẹ còn sống chưa chia tài sản. Ông L, bà L1, bà N3, ông D, ông B1 đã được cha mẹ chia lúc còn sống và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay, đất tranh chấp do ông N1 đang quản lý canh tác trên diện tích đất 12.552m².
Bị đơn ông Lê Văn N1 trình bày nguồn gốc đất của ông Lê Văn L3 (chết 1997), mẹ Nguyễn Thị C1 (chết 2012) gồm có 11 người con gồm: Các ông, bà Lê Thị T, Lê Thị H, Lê Thị B, Lê Thị K, Lê Thị N, Lê Văn N1, Lê Văn L, Lê Thị N3, Lê Thị L1 và 02 người con riêng Trần Văn D, Trần Văn B1. Nay, các nguyên đơn bà yêu cầu chia thừa kế ông không đồng ý vì diện tích đất này bà C1 đã cho ông N1 từ năm 1993, ông L3 (chết từ năm 1997) đã hết thời hiệu chia thừa kế có giấy cho viết tay không có chứng thực. Đối với yêu cầu trả lại cho bà N 20 chỉ vàng 24k, ông N1 không đồng ý vì khi bà C1 còn sống, bà C1 có cố đất cho ông Đ nhưng vàng do bà N3 nhận và sử dụng; nên bà N3 có trách nhiệm trả cho bà N số vàng này. Đối với việc bà N3 yêu cầu chia thừa kế đới với phần diện tích 2.250 m² phần đất cố cho ông Đ không phải của bà N3 mà của ông L3 nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó bà N3 không có quyền yêu cầu đòi đất. Vì vậy, ông không đồng ý trả cho bà N3 diện tích đất 2.250m².
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N3 trình bày yêu cầu những người thừa kế của bà Nguyễn Thị C1 trả diện tích đất 2.250m² đất nông nghiệp vì hiện nay đất do bà N đang canh tác. Đồng thời yêu cầu những người được hưởng phần thừa kế đất này trả cho bà N 20 chỉ vàng 24k và bà N giao lại phần đất 2.250m² cho bà N3 sử dụng, vì bà N3 đã được cấp giấy từ năm 1992; bà N3 trình bày bà không nhận vàng từ ông Đ bà chỉ chứng kiến việc ông Đ giao nhận vàng từ bà C1.
Ông Lê Văn L trình bày: không đồng ý với yêu cầu chia thừa kế của các nguyên đơn vì đây là tài sản riêng của ông N1, nếu Tòa án có chia thừa kế thì ông giao cho lại ông N1. Đối với yêu cầu trả lại 20 chỉ vàng cho bà N ông không đồng ý vì mẹ ông không cố đất cho ông Đ mà là bà C1 cố cho ông Đ nên bà N3 phải có trách nhiệm trả vàng cho bà N.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Võ Quang N2 và bà Mai Thị G trình bày diện tích 257m² đất ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2003 là ông mua của ông T4 năm 2000, trong quá trình sử dụng phía bà C1 có lấn của ông 46m². Nay, bà C1 đã chết nên ông yêu cầu những người thừa kế của bà C1 trả lại cho ông 46m² theo bản vẽ ngày 09/3/2012 của Văn phòng Đ1 - Chi nhánh C2.
Tại phiên tòa hôm nay các nguyên đơn trình bày giử nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu được nhận thừa kế là diện tích đất theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị N3, bà N rút lại yêu cầu khởi kiện đối với 20 chỉ vàng; đối với các đồng thừa kế của ông L3, bà C1. Ngoài ra các đồng thừa kế của ông L3, bà C1 rút lại một phần diện tích đất dư đo thực tế là 2.546,6m² so với giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất được cấp cho ông L3 là 12.552m².
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông Lê Văn L3 (chết 1997), mẹ Nguyễn Thị C1 (chết 2012), có 11 người con gồm: Các ông, bà Lê Thị T, Lê Thị H, Lê Thị B, Lê Thị K, Lê Thị N, Lê Văn N1, Lê Văn L, Lê Thị N3, Lê Thị L1 và 02 người con riêng của bà C1 là Trần Văn D, Trần Văn B1. Ông L3, bà C1 chết không để lại di chúc, có để lại tài sản là diện tích đất nông nghiệp 12.552m² đã được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn L3. Hiện nay, đất tranh chấp do ông N1 đang quản lý và canh tác từ năm 2012 cho đến nay nên các bà Lê Thị H, Lê Thị B, Lê Thị K, Lê Thị N yêu cầu chia thừa kế theo quy định của pháp luật.
Phía ông N1: Thống nhất nguồn gốc đất tranh chấp là của ông Lê Văn L3 (chết 1997), mẹ Nguyễn Thị C1 (chết 2012), có 11 người con gồm: Các ông, bà Lê Thị T, Lê Thị H, Lê Thị B, Lê Thị K, Lê Thị N, Lê Văn N1, Lê Văn L, Lê Thị N3, Lê Thị L1 và 02 người con riêng của bà C1 là Trần Văn D, Trần Văn B1. Ngày 15/4/1993, cha mẹ làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng diện tích đất 12.522m² và canh tác đến nay không bị tranh chấp. Ông N1 xác định đây là tài sản riêng của ông nên không đồng ý chia thừa kế.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có độc lập cụ thể:
- - Bà Lê Thị N3, bà Lê Thị N: Năm 1996, bà C1 mượn diện tích đất 2.250m² của bà N3 đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 04/12/1992 cố cho ông Lê Văn Đ giá 20 chỉ vàng 24k. Năm 2007, ông Trần Văn T1 (con ông Trần Văn D) ra vàng chuộc lại đất, sau đó 02 ngày bà N ra vàng chuộc lại và canh tác đến nay nên bà N3 khởi kiện yêu cầu các đồng thừa kế của bà C1 trả diện tích đất 2.250m², bà N khởi kiện yêu cầu các đồng thừa kế của bà C1 trả 20 chỉ vàng 24K. Tuy nhiên, quá trình tố tụng đã rút lại yêu cầu khởi kiện nên cần đình chỉ theo Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Ông Võ Quang N2, bà Mai Thị G (đã chết, những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng gồm các ông, bà Võ Văn L2, Võ Thị T2, Võ Thị D1, Võ Thị N4): Năm 2003, ông, bà nhận chuyển nhượng từ ông Võ Minh T4 diện tích đất 257,3m² và được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 09/02/2004, quá trình sử dụng đất đã bị gia đình bà C1 lấn chiếm diện tích đất 46m². Nay, yêu cầu ông N1, bà Trần Thị Cẩm C (vợ ông N1) là những người đang sử dụng đất trả diện tích đất đã lần chiếm. Tuy nhiên, quá trình tố tụng đã rút lại yêu cầu khởi kiện nên cần đình chỉ theo Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Do đó, phạm vi khởi kiện và quan hệ còn tranh chấp trong vụ án là chia thừa kế đối với diện tích đất 12.552m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00812/1B ngày 04/12/1992 do Ủy ban nhân dân huyện C, cấp cho ông Lê Văn L3. Các nguyên đơn cho rằng, đây là di sản do ông L3, bà C1 để lại chưa được chia nên yêu cầu chia thừa kế theo quy định; ông N1 cho rằng ngày 15/4/1993, ông L3, bà C1 đã làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng diện tích đất 12.522m² và canh tác đến nay không bị tranh chấp. Ông N1 xác định đây là tài sản riêng của ông nên không đồng ý chia thừa kế.
Xét thấy, tờ tặng cho quyền sử dụng đất diện tích 12.552m² ngày 15/4/1993, có những người làm chứng Lê Văn L, Trần Văn B1, Trần Văn D, Lê Thị L1, không có công chứng, chứng thực theo quy định và tính đến thời điểm hiện nay, ông L3, bà C1 đã chết, ông N1 chưa tiến hành việc kê khai nhận di sản thừa kế nên không có cơ sở xem xét đối với tờ tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên. Vì vậy có cơ sở xác định, diện tích đất 12.552m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00812/1B ngày 04/12/1992 do Ủy ban nhân dân huyện C, cấp cho ông Lê Văn L3 là di sản do ông L3, bà C1 để lại; do ông L3, bà C1 không để lại di chúc nên được xem xét chia thừa kế theo pháp luật theo Điều 649 Bộ luật Dân sự.
Về hàng thừa kế, các đương sự thống nhất ông L3, bà C1 có có 11 người con gồm: Các ông, bà Lê Thị T, Lê Thị H, Lê Thị B, Lê Thị K, Lê Thị N, Lê Văn N1, Lê Văn L, Lê Thị N3, Lê Thị L1 và 02 người con riêng của bà C1 là Trần Văn D, Trần Văn B1. Tuy ông D, ông B1 là con riêng của bà C1 nhưng có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng với ông L3 nên vẫn được xem xét như là hàng thừa kế thứ nhất theo Điều 654 Bộ luật Dân sự. Vì vậy, hàng thừa kế thứ nhất của ông L3, bà C1 là các ông, bà Lê Thị T, Lê Thị H, Lê Thị B, Lê Thị K, Lê Thị N, Lê Văn N1, Lê Văn L, Lê Thị N3, Lê Thị L1 và Trần Văn D, Trần Văn B1.
Về di sản thừa kế là tổng diện tích đất tranh chấp 12.552m², qua đo đạc thực tế là 15.098,6m². Tuy nhiên, tại Tòa án các đương sự thống nhất chỉ yêu cầu chia thừa kế đối với diện tích đất 12.552m², có giá 150.000 đồng/m² thành tiền là 1.882.800.000 đồng. Các đương sự thống nhất đây là các di sản của ông L3, bà C1 để lại do ông N1 đang quản lý nên tiếp tục giao cho ông N1 quản lý, sử dụng và ông N1 có nghĩa vụ hoàn giá trị cho các đồng thừa kế để đảm bảo tính ổn định.
Về kỷ phần thừa kế, như đã phân tích trên, hàng thừa thứ nhất của ông L3, bà C1 có 11 người. Tuy nhiên, từ năm 2012 đến nay ông N1 là người trực tiếp canh tác đất, có công tôn tạo, gìn giữ di sản nên cần dành 01 kỷ phần cho ông N1. Vì vậy, di sản của ông L3, bà C1 được chia thành 12 kỷ phần, mỗi kỷ phần được hưởng là 156.900.000 đồng, nên ông N1 có nghĩa vụ hoàn lại cho các ông, bà Lê Thị T, Lê Thị H, Lê Thị B, Lê Thị K, Lê Thị N, Lê Văn L, Lê Thị N3, Lê Thị L1,Trần Văn D, Trần Văn B1 mỗi người được hưởng 156.900.000 đồng.
Từ những cơ sở chứng cứ phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 649, 650, 651, 654, 660 và Điều 688 Bộ luật Dân sự, đề xuất:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các bà Lê Thị H, Lê Thị B, Lê Thị K, Lê Thị N.
- - Ông Lê Văn N1 được sử dụng diện tích đất 12.552m² và có trách nhiệm hoàn các giá trị kỷ phần được hưởng 156.900.000 đồng cho các đồng thừa kế gồm các ông, bà Lê Thị T, Lê Thị H, Lê Thị B, Lê Thị K, Lê Thị N, Lê Văn L, Lê Thị N3, Lê Thị L1, Trần Văn D, Trần Văn B1.
- - Ông Lê Văn N1 có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định.
- - Đình chỉ khởi kiện của bà Lê Thị N, bà Lê Thị N3 yêu cầu các đồng thừa kế của bà Nguyễn Thị C1 trả 20 chỉ vàng 24K và diện tích đất 2.250m²;
- - Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Quang N2 và bà Mai Thị G, yêu cầu các đồng thừa kế của bà C1 gồm các ông, bà Lê Thị T, Lê Thị H, Lê Thị B, Lê Thị K, Lê Thị N, Lê Văn L, Lê Văn N1, Lê Thị L1, Lê Thị N3, Trần Văn B1, Trần Văn D trả diện tích đất 46m².
- - Yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm: chưa phát hiện có vi phạm nên không có yêu cầu, kiến nghị khắc phục.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ Hồ sơ dân sự phúc thẩm, Bản án số 74/2015/DS-PT ngày 13/3/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh tỉnh An Giang; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đồng nguyên đơn khởi kiện ông Lê Văn N1. Ông N1 có nơi cư trú tại Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang. Nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại các Điều 26, 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Lê Văn N1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng có đơn xin vắng mặt, vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các ông, bà là đúng theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Ông Lê Văn L3 (chết 1997), bà Nguyễn Thị C1 (chết 2012). Các đương sự thống nhất ông L3, bà C1 (chết): lúc sinh thời ông, bà có 11 người con gồm: Bà Lê Thị T, Lê Thị H, Lê Thị B, Lê Thị K, Lê Thị N, Lê Văn N1, Lê Văn L, Lê Thị N3, Lê Thị L1 và 02 người con riêng của bà C1 là Trần Văn D, Trần Văn B1. Ông L3, bà C1 (chết) để lại 12.552m² đất nông nghiệp, cây lâu năm do ông Lê Văn L3 đứng tên đất tọa lạc tại: Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang; các bên đương sự xác định đây là tài sản của ông L3, bà C1. Vì vậy, đây là tài sản chung của ông L3, bà C1.
Bà Lê Thị T, Lê Thị H, Lê Thị B, Lê Thị K, Lê Thị N khởi kiện ông Lê Văn N1 yêu cầu chia thừa kế di sản của cha, mẹ là ông Lê Văn L3 (chết 1997), mẹ Nguyễn Thị C1 (chết 2012) để lại là 12.552m² đất nông nghiệp, cây lâu năm do ông Lê Văn L3 đứng tên đất tọa lạc tại Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang; chia cho 06 người theo quy định pháp luật.
[3] Các đương sự thống nhất theo số liệu bản vẽ ngày 20/3/2013 của Văn phòng Đ1 - Chi nhánh C2. Diện tích thực tế 12.552m² đất nông nghiệp, cây lâu năm; hiện tại do ông Lê Văn N1 đang quản lý sử dụng và thống nhất giá đất tại thời điểm đo đạc và xem xét thẩm định tại chỗ ngày 20/3/2013 có giá là 150.000 đồng/m² các đương sự thống nhất không yêu cầu Tòa án đo đạc, xem xét thẩm định tại chổ lại. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của đồng nguyên đơn về chia thừa kế.
1. Công nhận di sản của ông L3, bà C1 chết để lại 12.552m² đất nông nghiệp, cây lâu năm được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00812QSDĐ/lB theo tờ bản đồ số: 02; các thửa số: 2472, 2473, 2494, 2495, 2576, 2575, 4534 cho ông Lê Văn L3, ngày 04/12/1992; đất tọa lạc tại Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang; (theo các sơ đồ hiện trạng bản vẽ ngày 20/3/2013 của Văn phòng Đ1 - Chi nhánh C2, tỉnh An Giang); là tài sản phải chia cho 11 người thuộc hàng thừa kế của ông L3, bà C1, thì mỗi người được hưởng 1.046m²; theo quy định của pháp luật.
Mặc khác, trong quá trình Tòa án thu thập chứng cứ thì thấy đối với 11 người con thuộc hàng thừa kế của ông L3, bà C1 đã có nơi ở ổn định và có đất canh tác; riêng trường hợp ông Lê Văn N1 đang quản lý, canh tác ổn định trên diện tích 12.552m² đất nông nghiệp; trong khoảng thời gian này ông N1 có công tôn tạo cải tạo đất, từ đất ao hầm qua nhiều năm, nay đã trở thành đất lúa màu mỡ và có trách nhiệm gìn giữ di sản của cha mẹ đến ngày hôm nay; nên cần dành thêm 01 kỷ phần cho ông N1. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao 12.552m² đất nông nghiệp cho ông N1 tiếp tục canh tác là phù hợp đúng theo quy định của pháp luật.
Từ những tài liệu thu thập và chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao diện tích đất 12.552m² (theo sơ đồ hiện trạng các bản vẽ ngày 20/3/2013 của Văn phòng Đ1 - Chi nhánh C2, tỉnh An Giang); đất tọa lạc tại Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang; cho ông Lê Văn N1 tiếp tục quản lý xử dụng. Ông Lê Văn N1 có nghĩa vụ hoàn trả giá trị mỗi suất thừa kế được hưởng diện tích đất 1.046m² tương đương giá trị cho mỗi suất thừa kế được hưởng là 156.900.000 đồng.
[5] Về án phí: các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Các Điều 612, 613, 623, 649, 650, 651,654, 660 và Điều 688 Bộ luật dân sự;
- - Căn cứ vào các Điều 105, 166, 167, 188 và Điều 203 Luật Đất đai;
- - Các Điều 26, 34, 35, 39, 147, 227, 228 và Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;
- - Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn bà Lê Thị T, Lê Thị H, Lê Thị B, Lê Thị K, Lê Thị N về chia thừa kế.
- Công nhận di sản của ông Lê Văn L3, bà Nguyễn Thị C1 (chết) để lại diện tích đất 12.55 2m² nông nghiệp, cây lâu năm, được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00812QSDĐ/lB theo tờ bản đồ số: 02; các thửa số: 2472, 2473, 2494, 2495, 2576, 2575, 4534 cho ông Lê Văn L3, ngày 04/12/1992; đất tọa lạc tại Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang.
- Về suất thừa kế mỗi được hưởng cụ thể:
- 3.1. Bà Lê Thị T, Lê Thị H, Lê Thị B, Lê Thị K, Lê Thị N, Lê Văn N1, Lê Văn L, Lê Thị N3, Lê Thị L1, Trần Văn D và ông Trần Văn B1 mỗi người 156.900.000 đồng.
- Giao cho ông Lê Văn N1 tiếp tục quản lý xử dụng diện tích 12.552m², được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00812QSDĐ/lB theo tờ bản đồ số: 02; các thửa số: 2472, 2473, 2494, 2495, 2576, 2575, 4534 cho ông Lê Văn L3, ngày 04/12/1992; đất tọa lạc tại Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang.
- 4.1. Các bản vẽ ngày 20/3/2013 của Văn phòng Đ1 chi nhánh huyện C2, tỉnh An Giang là một phần không thể tách rời của bản án.
- Ông Lê Văn N1 có nghĩa vụ hoàn giá trị đất cho các đồng thừa kế của ông L3, bà C1 gồm: Bà Lê Thị T, Lê Thị H, Lê Thị B, Lê Thị K, Lê Thị N, Lê Văn N1, Lê Văn L, Lê Thị N3, Lê Thị L1, Trần Văn D và ông Trần Văn B1 mỗi người 156.900.000 đồng.
- Ông Lê Văn N1 có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền kê khai và đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà N3, N đối với diện tích đất 2.250m² và 20 chỉ vàng. Do bà N3, N rút lại yêu cầu khởi kiện; nên Hội đồng xét xử không xét đến và dành quyền khởi kiện cho bà N3, Ngợi bằng 01 vụ án khác nếu có yêu cầu.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông N2, bà G đối với các đồng thừa kế của ông L3, bà C1 về diện tích tranh chấp 46m².
- Về chi phí tố tụng:
- 9.1. Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ: Các ông, bà có trách nhiệm liên đới phải chịu 1.000.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- 10.1. Các ông, bà Lê Thị K, Lê Thị B, Lê Thị H, Lê Thị T, Lê Thị N mỗi người phải chịu án phí 7.845.000 đồng; nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.500.000 đồng, theo các biên lai thu số 001705, 001706, 001707, 001708, 001709 ngày 20/11/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới. Các bà K, B, H, T, N còn phải nộp thêm 6.354.000 đồng. Tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- 10.2. Bà Lê Thị N3 phải chịu án phí 7.845.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.812.500 đồng, của bà N3 đã nộp theo biên lai thu số 001807 ngày 26/12/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới. Bà N3 còn phải nộp thêm 5.032.500 đồng.
- 10.3. Các ông, bà Lê Văn L, Lê Thị L1, Trần Văn D, Trần Văn B1 mỗi người phải chịu án phí 7.845.000 đồng; tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- 10.4. Ông Lê Văn N1 chịu án phí 15.690.000 đồng, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- 10.5. Ông N2, bà G được nhận lại 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 003718 ngày 10/10/2011 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết, tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quang Thanh |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Chợ Mới, ngày 23 tháng 9 năm 2024 |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Về vụ án: Tranh chấp “Quyền sử dụng đất, Thừa kế”, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
- Bà Lê Thị T, sinh năm 1956; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Bà Lê Thị H, sinh năm 1962; địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bà Lê Thị B, sinh năm 1966; địa chỉ: Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bà Lê Thị K, sinh năm 1972; địa chỉ: Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bà Lê Thị N, sinh năm 1976; địa chỉ: Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang.
2. Bị đơn:
- Ông Lê Văn N1, sinh năm 1970; địa chỉ: Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang.
- Ông Võ Quang N2, sinh năm 1958.
- Bà Mai Thị G, sinh năm 1960; (chết 2018).
- Bà Trần Thị Cẩm C.
- Bà Lê Thị N3, sinh năm 1964.
- Ông Lê Văn L, sinh năm 1959.
- Bà Lê Thị L1, sinh năm 1960.
- Ông Trần Văn D, sinh năm 1954; địa chỉ: C ngụ tại Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang.
- Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1985.
- Ông Trần Văn T1, sinh năm 1982; địa chỉ cùng ngụ: Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang.
Đại diện theo ủy quyền hợp pháp của ông D và bà L1. Có ông Lê Văn L, sinh năm 1959; địa chỉ: Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang (Văn bản ủy ngày 29/7/2015).
- Ông Trần Văn B1, sinh năm 1951; địa chỉ: Số B, ấp A, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Mai Thị G (chết năm 2018).
- Ông Võ Văn L2, sinh năm 1981.
- Bà Võ Thị T2, sinh năm 1985.
- Bà Võ Thị D1, sinh năm 1987.
- Bà Võ Thị N4, sinh năm 1989; địa chỉ: cùng ngụ tại: Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: (chung hộ khẩu với ông Võ Văn L2).
- Bà Huỳnh Kim T3, sinh năm 1982 (vợ ông L2).
- Em Võ Phú Q, sinh năm 2002 (con ông L2);
- Em Võ Thị Tuyết N5, sinh năm 2005 (con ông L2); địa chỉ: cùng ngụ tại: Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang..
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang T5.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn P.
- Ông Nguyễn Thanh L4.
NỘI DUNG
Sau khi thảo luận, biểu quyết Hội đồng xét xử thống nhất 3/3 tất cả các nội dung sau:
Căn cứ:
- - Các Điều 612, 613, 623, 649, 650, 651,654, 660 và Điều 688 Bộ luật dân sự;
- - Căn cứ vào các Điều 105, 166, 167, 188 và Điều 203 Luật Đất đai;
- - Các Điều 26, 34, 35, 39, 147, 227, 228 và Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;
- - Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn bà Lê Thị T, Lê Thị H, Lê Thị B, Lê Thị K, Lê Thị N về chia thừa kế.
- Công nhận di sản của ông Lê Văn L3, bà Nguyễn Thị C1 (chết) để lại diện tích đất 12.55 2m² nông nghiệp, cây lâu năm, được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00812QSDĐ/lB theo tờ bản đồ số: 02; các thửa số: 2472, 2473, 2494, 2495, 2576, 2575, 4534 cho ông Lê Văn L3, ngày 04/12/1992; đất tọa lạc tại Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang.
- Về suất thừa kế mỗi được hưởng cụ thể:
- 3.1. Bà Lê Thị T, Lê Thị H, Lê Thị B, Lê Thị K, Lê Thị N, Lê Văn N1, Lê Văn L, Lê Thị N3, Lê Thị L1, Trần Văn D và ông Trần Văn B1 mỗi người 156.900.000 đồng.
- Giao cho ông Lê Văn N1 tiếp tục quản lý xử dụng diện tích 12.552m², được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00812QSDĐ/lB theo tờ bản đồ số: 02; các thửa số: 2472, 2473, 2494, 2495, 2576, 2575, 4534 cho ông Lê Văn L3, ngày 04/12/1992; đất tọa lạc tại Khóm A, thị trấn H, huyện C, tỉnh An Giang.
- 4.1. Các bản vẽ ngày 20/3/2013 của Văn phòng Đ1 chi nhánh huyện C2, tỉnh An Giang là một phần không thể tách rời của bản án.
- Ông Lê Văn N1 có nghĩa vụ hoàn giá trị đất cho các đồng thừa kế của ông L3, bà C1 gồm: Bà Lê Thị T, Lê Thị H, Lê Thị B, Lê Thị K, Lê Thị N, Lê Văn N1, Lê Văn L, Lê Thị N3, Lê Thị L1, Trần Văn D và ông Trần Văn B1 mỗi người 156.900.000 đồng.
- Ông Lê Văn N1 có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền kê khai và đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà N3, N đối với diện tích đất 2.250m² và 20 chỉ vàng. Do bà N3, N rút lại yêu cầu khởi kiện; nên Hội đồng xét xử không xét đến và dành quyền khởi kiện cho bà N3, Ngợi bằng 01 vụ án khác nếu có yêu cầu.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông N2, bà G đối với các đồng thừa kế của ông L3, bà C1 về diện tích tranh chấp 46m².
- Về chi phí tố tụng:
- 9.1. Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ: Các ông, bà có trách nhiệm liên đới phải chịu 1.000.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- 10.1. Các ông, bà Lê Thị K, Lê Thị B, Lê Thị H, Lê Thị T, Lê Thị N mỗi người phải chịu án phí 7.845.000 đồng; nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.500.000 đồng, theo các biên lai thu số 001705, 001706, 001707, 001708, 001709 ngày 20/11/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới. Các bà K, B, H, T, N còn phải nộp thêm 6.354.000 đồng. Tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- 10.2. Bà Lê Thị N3 phải chịu án phí 7.845.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.812.500 đồng, của bà N3 đã nộp theo biên lai thu số 001807 ngày 26/12/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới. Bà N3 còn phải nộp thêm 5.032.500 đồng.
- 10.3. Các ông, bà Lê Văn L, Lê Thị L1, Trần Văn D, Trần Văn B1 mỗi người phải chịu án phí 7.845.000 đồng; tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- 10.4. Ông Lê Văn N1 chịu án phí 15.690.000 đồng, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- 10.5. Ông N2, bà G được nhận lại 200.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 003718 ngày 10/10/2011 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết, tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Quang T5 |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quang Thanh |
Bản án số 146/2024/DS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp “quyền sử dụng đất, chia thừa kế”
- Số bản án: 146/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp “Quyền sử dụng đất, chia thừa kế”
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: thừa kế tài sản
