TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 146/2024/HS-ST
Ngày: 23/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thu In
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Quốc Tiến;
Bà Lê Thị Mỹ;
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Chí Thức - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 109/2024/TLST-HS, ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 174/2024/QĐXXST-HS, ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Trí P (tên gọi khác: T), sinh ngày 24/7/2000, tại R, Kiên Giang; Nơi cư trú: số 46, đường T, phường S, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1980 và bà Huỳnh Diễm T, sinh năm 1983; em ruột có 01 người, sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: chưa.
- Nhân thân:
- + Ngày 26/4/2019 bị Công an thành phố xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm sức khỏe người khác, mức phạt 2.500.000 đồng, theo Quyết định số 47/QĐ-XPVPHC, ngày 26/4/2019, đã đóng phạt ngày 28/11/2019, đã xóa tiền sự.
- + Ngày 26/01/2024 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá khởi tố về tội Trộm cắp tài sản theo Quyết định số 30, ngày 26/01/2024. Ngày 19/7/2024, bị Toà án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt 06 tháng tù, theo Bản án số 147/2024/HS-ST.
- + Ngày 07/01/2024 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đến ngày 20/02/2024 bị khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh số 145, ngày 20/02/2024 để điều tra, hiện bị cáo đang tại ngoại tại số 46, đường Trương Vĩnh Ký, phường Rạch Sỏi, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Chị Đặng Kim T, sinh năm 2001 (có đơn xin vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
* Người làm chứng:
Trang Đức B, sinh năm 1987 (vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp M, xã L, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
Mai Chí T1, sinh năm 1996 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số 541, tổ 11, khu phố M, thị trấn L, huyện C, tỉnh Kiên Giang.
Võ Triều D, sinh năm 2007 (vắng mặt);
Địa chỉ: số 24, đường T, phường S, thành phố R, tỉnh Kiên Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 40 phút, ngày 07/01/2024, Đặng Kim T điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại Airblade, biển kiểm soát 68D1 - 127.54 đi từ quán 68 trên đường 3, phường L, thành phố R để về nhà tại ấp T, xã G, huyện C, tỉnh Kiên Giang, đến khoảng 02 giờ cùng ngày khi đến vòng xoay giao nhau giữa đường N và đường L, phường A, thành phố R thì T tự đụng trúng vòng xoay và ngã ra đường, làm cốp xe bị bung ra, làm rơi 01 (một) cặp da bên trong có quần áo và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X 64GB, màu trắng; 01 (một) bóp da nhỏ bên trong có giấy tờ tùy thân và tiền Việt Nam khoảng 1.000.000 đồng. Lúc này có Nguyễn Trí P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại MSX 125 JV, màu xanh, biển kiểm soát 68S1 - 453.00, chở Võ Triều D (sinh năm 2007) chạy ngang thấy T bị ngã xe nên dừng lại giúp T đỡ xe lên, khi dựng xe lên thì T thấy đồ trong cốp xe bị rơi ra nên nhờ P và D tìm giúp, khi đi tìm thì P nhặt được 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X 64GB, màu trắng của T nên bỏ vào túi quần (D không biết P nhặt được điện thoại), sau đó P và D đưa lại cho T 01 (một) cái cặp da rồi cả hai bỏ đi. T kiểm tra thì phát hiện mất 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X 64GB, màu trắng; 01 (một) giấy đăng ký xe biển số 68D1-127.54; 01 (một) căn cước công dân mang tên Đặng Kim T, 01 (một) thẻ ATM và tiền Việt Nam khoảng 1.000.000 đồng.
Đến khoảng 14 giờ, ngày 07/01/2024, anh Trang Đức B là bạn của T, sử dụng điện di động điện vào số máy di động đã mất của T thì P bắt máy, nên B xin chuộc lại chiếc điện thoại trên với giá là 1.000.000 đồng nên P đồng ý và hẹn gặp tại trước Nhà hàng L, phường V (ngay lúc này B báo Công an phường A), P rủ thêm Mai Chí T1, sinh ngày 15/7/1996 cùng đi đến điểm hẹn. Khi P vừa đưa điện thoại cho B thì bị Công an phường A mời về trụ sở làm việc, tại Công an phường P thừa nhận hành vi phạm tội, (bút lục số 01, 17, 60 đến 67, 70 đến 73, 78 đến 81, 84 đến 89, 92 đến 97).
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Trí P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung vụ án đã nêu trên.
* Việc thu giữ tài liệu, đồ vật:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X, số Imei 356740084417030, màu trắng, đã qua sử dụng, (bút lục số 18).
* Tại Kết luận định giá tài sản số: 05/KL-HĐĐGTS, ngày 19/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận:
- - 01 (một) điện thoại di động Iphone X, màu trắng, dung lượng 64GB, số máy MQAY2J/A, số sê ri FI7VR8FFJCLL, số Imei 356740084417030, sản xuất ngày 12/12/2017, đã qua sử dụng, thời điểm ngày 07/01/2024 có giá trị là 2.600.000 đồng, (bút lục số 27 đến 32).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá tài sản nêu trên.
* Về xử lý vật chứng: Ngày 22/01/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã trả lại cho Đặng Kim T 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X, số Imei 356740084417030, màu trắng, đã qua sử dụng, (bút lục số 39, 42).
Về phần dân sự: Bị hại Đặng Kim T đã nhận lại tài sản bị trộm và không có yêu cầu gì khác.
Tại bản cáo trạng số 124/CT-VKSRG, ngày 03 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Trí P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trí P mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại Đặng Kim T đã nhận lại tài sản bị trộm và không có yêu cầu gì khác, nên đề nghị không xem xét.
Đối với Võ Triều D và Mai Chí T1 không biết việc Nguyễn Trí P trộm cắp tài sản nên không xử lý.
Bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bảng Cáo trạng, kết luận điều tra và lời khai của những người tham gia tố tụng khác, cùng các chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ và vật chứng đã thu giữ. Từ đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 07/01/2024, tại vòng xoay giao nhau giữa đường N và đường L, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang, Nguyễn Trí P đã lén lút trộm cắp của Đặng Kim T 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X, số Imei 356740084417030, màu trắng, đã qua sử dụng, qua định giá tài sản có giá trị là 2.600.000 đồng (hai triệu sáu trăm nghìn đồng), đến ngày 20/02/2024 Nguyễn Trí P bị khởi tố để điều tra.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Trí P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét về tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bản thân bị cáo nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, vì mục đích vụ lợi muốn có tiền tiêu xài mà không phải bỏ ra công sức lao động chân chính, bị cáo bất chấp pháp luật thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của những người bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo với lỗi cố ý trực tiếp đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người bị hại và làm mất an ninh trật tự ở địa phương. Do đó, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt; đồng thời cũng nhằm góp phần ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội.
[4] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự làm tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[6] Theo bản luận tội mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Đặng Kim T đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về các vấn đề khác: Đối với Võ Triều D và Mai Chí T1 không biết việc Nguyễn Trí P trộm cắp tài sản nên không xử lý.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Nguyễn Trí P phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Trí P mức án 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Đặng Kim T đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Trí P phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23/7/2024). Riêng người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
6 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TRẦN THU IN |
Bản án số 146/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 146/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trí P phạm tội trộm cắp tài sản
