Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 146/2023/HSST

Ngày 21/11/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

*Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc Hà.

*Các Hội thẩm nhân dân: - 1. Ông Giáp Văn Phẩm.

-2. Ông Nguyễn Xuân Kiệm.

* Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Chung - Thư ký Tòa án

nhân dân huyện Lục Ngạn.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 113/2023/HSST ngày 03 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2023/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 10 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số: 68/2023/QĐXXST - HS ngày 24 10 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số: 72/2023/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thị H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh năm 1971 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ văn hoá: Lớp 11/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không. Con ông: Nguyễn Văn Y, đã chết; con bà: Đào Thị T, đã chết. Chồng: Đặng Văn T1, sinh năm 1969 (là bị cáo trong cùng vụ án); Con: Có 03 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2006; Tiền sự, tiền án: Không;

Bị cáo bị bắt khẩn cấp, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2013 đến nay. Hiện bị bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Đặng Văn T1; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1969 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu và chỗ ở: Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ văn hoá: Lớp 02/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không. Bố đẻ: Đặng Công T2, đã chết. Mẹ đẻ: Nguyễn Thị T3, đã chết. Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1971 (là bị cáo trong cùng vụ án). Con: Có 03 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2006. Tiền sự, tiền án: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam, từ ngày 16/6/2013 đến nay. Hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị HĐặng Văn T1:

Ông Phạm Quang H1 - Luật sư thuộc văn phòng L1 - Đoàn luật sư thành phố H (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Khúc Thị Q, sinh năm 1972 (có mặt);

Địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

- Người làm chứng:

Anh Đinh Đức H2, sinh năm 1982 (có mặt);

Địa chỉ: tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 01/2021, do có nhu cầu vay tiền nên Khúc Thị Q, sinh năm 1972, trú tại thôn K, xã H, huyện L đặt vấn đề với anh Đinh Đức H2, sinh năm 1982, trú tại tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L (là người quen) nhờ hỏi vay tiền hộ. Khi được Q nhờ, anh H2 đã tìm hiểu và biết Đặng Văn T1, sinh năm 1969 và vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1971, cùng trú tại tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L có tiền cho vay nên anh H2 đã gặp T1 để hỏi vay tiền hộ Q và nói có thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSD đất). T1 trả lời là về trao đổi bàn bạc với vợ rồi trả lời sau. Khoảng 3 đến 5 ngày sau, anh H2 được T1 trả lời là đồng ý cho vay với lãi suất 3.000đ/1 triệu/1 ngày. Sau đó anh H2 nói lại với Q thì Q đồng ý vay tiền. Anh H2 đã dẫn T1, H đến nhà Q để nói chuyện và xem đất. Tại đây vợ chồng T1, HQ đã thỏa thuận: T1, H cho Q vay 500.000.000 đồng với lãi suất 3.000đ/1triệu/1ngày và Q sẽ thế chấp GCNQSD đất số BG 232036, số vào sổ cấp GCNQSD đất GCN: CH00374; quyết định cấp số 1056/QĐ-UBND do UBND huyện L cấp ngày 23/9/2011 mang tên Khúc Thị Q, diện tích thửa đất 908m² (gồm 400m² đất ở và 508m² đất vườn), địa chỉ thửa đất: Thôn K, xã H, huyện L (dưới hình thức lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất- viết tắt là HĐCNQSD đất). Do GCNQSD đất của Q đang thế chấp tại Quỹ tín dụng nhân dân xã H để vay số tiền 300.000.000 đồng nên T1, H sẽ đưa cho Q 300.000.000 đồng trước để trả quỹ tín dụng nhân dân xã H, lấy GCNQSD đất ra, số tiền còn lại T1, H sẽ đưa nốt cho Q sau khi hoàn thiện HĐCNQSD đất. Thực hiện thỏa thuận trên, ngày 19/01/2021, T1, H, QH2 cùng đi ô tô đến Quỹ tín dụng nhân dân xã H, khi đến khu vực cổng Quỹ tín dụng nhân dân xã H, H đã đưa cho Quân số tiền 300.000.000 đồng. Q cầm số tiền trên vào Quỹ tín dụng nhân dân xã H làm thủ tục tất toán khoản vay và lấy GCNQSD đất ra. Sau đó T1, H, QH2 cùng đến Phòng C ở tổ dân phố D, thị trấn C, huyện L để làm HĐCNQSD đất nhưng do còn thiếu một số thủ tục nên không làm được ngay. Sau đó cả bốn người cùng đến Uỷ ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện L làm thủ tục xóa thế chấp trên GCNQSD đất của Q. Sau khi làm thủ tục xoá thế chấp ở UBND huyện L xong, cả 4 người về nhà T1, H. Tại đây Q đề nghị được lấy thêm 50.000.000 đồng nữa thì T1, H đồng ý. Các bên lập hợp đồng đặt cọc quyền sử dụng đất và tài sản trên đất do anh H2 là người viết, nội dung: Khúc Thị Q chuyển nhượng cho Đặng Văn T1Nguyễn Thị H thửa đất 908m2 ở thôn K, xã H với giá 500.000.000 đồng, đặt cọc trước 350.000.000 đồng, hẹn ngày 20, 21/01/2021 làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, khi nào làm xong HĐCNQSD đất thì T1, H sẽ thanh toán nốt số tiền còn lại rồi Q ký vào mục “Bên A” (bên bán), T1 ký vào mục B (bên mua), anh H2 ký vào mục “Người làm chứng”. Hợp đồng do T1, H giữ bản gốc. Sau đó, H2 đưa Q đến UBND xã H để làm nốt một số thủ tục còn thiếu. Sau khi làm thủ tục xong, Q gặp T1, HUBND xã H và đưa GCNQSD đất cho H. Ngày 21/01/2021 T1, H, QH2 cùng đến Văn phòng C1 để ký kết HĐCNQSD đất. Tại đây công chứng viên Nguyễn Thị Y1 đã soạn thảo HĐCNQSD đất ghi ngày 21/01/2021 theo yêu cầu của Q, T1, H, trong đó tại Điều 4 của Hợp đồng thoả thuận về nộp thuế, phí như sau “Thuế, lệ phí liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Hợp đồng này do bên B chịu trách nhiệm nộp”. Sau khi soạn thảo xong các bên được đọc lại hợp đồng và ký xác nhận vào hợp đồng, Q ký vào mục “bên A” (Bên chuyển nhượng), T1, H ký vào mục “Bên B” (Bên nhận chuyển nhượng). Hợp đồng được lập thành 4 bản, Q giữ 02 bản, T1, H giữ 01 bản, văn phòng công chứng giữ 01 bản. Sau khi ký kết HĐCNQSD đất xong, T1, H, QH2 cùng về nhà T1, H. Tại đây, T1, H đưa cho Quân số tiền còn lại là 150.000.000 đồng thì H2 bảo Q đằng nào cũng phải trả lãi thì trả trước 1 tháng đi, H bảo tiền lãi 3.000đ/1 triệu/1 ngày thì một tháng là 45.000.000 đồng, Q đồng ý nên T1, H trừ đi 45.000.000 đồng chỉ đưa cho Q 105.000.000 đồng. Về thời hạn vay tiền hai bên thỏa thuận là từ ngày 19/01/2021 đến 19/4/2021, trong vòng 90 ngày nếu Q trả được 500.000.000 đồng thì vợ chồng T1, H sẽ phải trả lại đất cho Q. Như vậy số tiền lãi Q phải trả cho vợ chồng T1, H là 500.000.000₫ x 9%/ tháng (tức 108%/năm) x 3 tháng = 135.000.0000 đồng, Q đã trả cho T1, H được 45.000.000 đồng. Để đảm bảo việc này thì H2 đã viết “Hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên” với nội dung sau 03 tháng (kể từ ngày 21/01/2021) Q sẽ mua lại thửa đất trên. Ngày 26/01/2021, H nộp đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất đến chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L. Ngày 01/02/2021, chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L xác nhận nội dung thay đổi cơ sở pháp lý chuyển nhượng cho Nguyễn Thị HĐặng Văn T1 tại phần “nội dung thay đổi cơ sở pháp lý” trên GCNQSD đất mang tên Khúc Thị Q. Sau đó do Q không có tiền nên không tiếp tục trả lãi cho T1, H. Đến ngày 11/6/2021, Q nhờ chị Trần Thị D, sinh năm 1990, trú tại thôn P, xã H, huyện L chuyển khoản hộ số tiền 30.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng của H để trả lãi tháng tiếp cho cho vợ chồng T1, H. Chị D đồng ý và đã chuyển số tiền 30.000.000 đồng từ số tài khoản 0731000830137 mang tên Trần Thị D đến số tài khoản 1017539262 mang tên Nguyễn Thị H đều mở tại Ngân hàng N1 (V).

Đối với Khúc Thị Q, sau khi thế chấp GCNQSD đất cho Đặng Văn T1Nguyễn Thị H, Q đã thuê người làm giả GCNQSD thửa đất nêu rồi mang cầm cố để chiếm đoạt tài sản của người khác. Ngày 30/8/2023, Q bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L khởi tố và bắt tạm giam về tội “Làm giả giấy tờ, tài liệu của cơ quan tổ chức” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Quá trình điều tra vụ án nêu trên Q đã tố cáo hành vi cho vay lãi nặng của Đặng Văn T1Nguyễn Thị H.

Ngày 07/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện L tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị HĐặng Văn T1. Kết quả khám xét thu giữ: 01 hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/01/2021 có chữ ký của Khúc Thị Q, Đặng Văn T1Đinh Đức H2 (bản gốc); 01 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/01/2022 có công chứng, có chữ ký của Khúc Thị Q, Đặng Văn T1, Nguyễn Thị H (bản gốc); 01 Hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên, không đề ngày tháng, có chữ ký của Khúc Thị Q, Đặng Văn T1 (bản gốc); 01 GCNQSD đất số BG 232036, số vào sổ cấp GCNQSD đất GCN: CH00374; quyết định cấp số 1056/QĐ-UBND do UBND huyện L cấp ngày 23/9/2011 mang tên Khúc Thị Q (bản gốc). Ngoài ra CQĐT còn thu giữ một số giấy tờ tài liệu sau:

+ Thu giữ tại phòng ngủ bên phải trên tầng 2 của nhà ở theo hướng cầu thang đi lên: 01 bản tự khai gồm 02 tờ A4 đề tháng 3/2023, có tên người khai là Nguyễn Thị H, không có chữ ký thu tại ngăn kéo cạnh đầu giường.

+ Thu giữ tại phòng ngủ bên trái trên tầng 2 của nhà ở theo hướng cầu thang đi lên các tài liệu gồm: 01 bản tự khai gồm 02 tờ A4 đề tháng 4/2023 có tên người khai là Nguyễn Thị H, không có chữ ký thu giữ tại ngăn kéo bàn trang điểm; 01 quyển sổ bìa in nhiều hình, có in chữ ở bìa “Haplus”, tờ đầu có viết chữ, các tờ khác không viết chữ thu tại đầu giường ngủ; thu tại ngăn dưới tủ quần áo trong phòng ngủ các tài liệu gồm: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (viết tắt là GCNQSD đất) mang tên hộ ông Nguyễn Văn B; 01 GCNQSD đất số BD 188306 mang tên bà Nguyễn Thị H3, ông Hà Văn T4; 01 GCNQSD đất số BU654676 mang tên Nguyễn Thị H3; 01 GCNQSD đất số CO455107 mang tên hộ bà Nguyễn Thị L; 01 GCNQSD đất số CO445076 mang tên hộ bà Nông Thị X; 01 GCNQSD đất số AN979907 mang tên bà Nguyễn Thị H3; 01 GCNQSD đất số AL 547184 mang tên hộ bà Nguyễn Thị H3; 01 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 30/01/2022 (gồm 04 tờ); 01 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 30/01/2022 (gồm 06 tờ); 01 bộ hồ sơ gồm 06 tờ A4 bản gốc gồm: tờ đo đạc chỉnh lý địa chính thửa đất, đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất đề ngày 13/12/2019, bản mô tả ranh giới thửa đất đề ngày 30/10/2018, đơn xin đề nghị thẩm định nhu cầu sử dụng thửa đất, thẩm định điều kiện cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đề ngày 13/12/2019; 01 giấy xác nhận ghi ngày 30/12/2019, kết quả đo đạc, chỉnh lý thửa đất đề ngày 30/10/2018.

Ngày 08/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký, chữ số trong 01 hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/01/2021 có chữ ký của Khúc Thị Q, Đặng Văn T1Đinh Đức H2 (bản gốc); 01 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/01/2022 có công chứng, có chữ ký của Khúc Thị Q, Đặng Văn T1, Nguyễn Thị H (bản gốc); 01 Hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên, không đề ngày tháng, có chữ ký của Khúc Thị Q, Đặng Văn T1 (bản gốc). Tại Bản kết luận giám định số 1587/KL-KTHS ngày 25/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

- Chữ viết có nội dung “Tôi đã đọc hiểu và đồng ý- Nguyễn Thị H”; chữ ký mang tên Nguyễn Thị H dưới mục “bên B (Ký và ghi rõ họ tên)” và chữ ký cùng dạng ở cuối các trang giấy trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A3) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị H trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M1 đến M14) là do cùng một người ký, viết ra.

- Chữ viết có nội dung “Tôi đã đọc hiểu và đồng ý” dưới mục “Bên A (Ký và ghi rõ họ tên)” trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A3); chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung “Q – Khúc Thị Q” dưới các mục “Bên A”, “Bên B”, “Bên A (Ký và ghi rõ họ tên)” và chữ ký có nội dung “Quân” ở cuối các trang giấy trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2, A3) so với chữ ký, chữ viết của Khúc Thị Q trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M28 đến M32) là do cùng một người ký, viết ra.

- Chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung “T1 – Đặng Văn T1” dưới các mục “Bên B”, “Bên A” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2); chữ ký (dạng chữ viết), chữ viết có nội dung “Tôi đã đọc hiểu và đồng ý – T1 - Đặng Văn T1” dưới mục “Bên A (Ký và ghi rõ họ tên)” và chữ ký có nội dung “T1” ở cuối các trang giấy trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A3) so với chữ ký, chữ viết của Đặng Văn T1 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M15 đến M23) là do cùng một người ký, viết ra.

- Chữ ký, chữ viết trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu A1, A2 – trừ các chữ ký, chữ viết đã kết luận ở trên) so với chữ ký, chữ viết của Đinh Đức H2 trên các tài liệu mẫu (ký hiệu từ M24 đến M27) là do cùng một người ký, viết ra.

Ngày 11/6/2023 và 15/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện L có công văn đề nghị Ngân hàng thương mại cổ phần N1 (V) cung cấp lịch sử giao dịch tài khoản ngân hàng 0731000830137 mang tên Trần Thị D và tài khoản ngân hàng 1017539262 mang tên Nguyễn Thị H. Kết quả trả lời của Ngân hàng V xác định ngày 11/6/2021, sô tài khoản 0731000830137 mang tên Trần Thị D chuyển 30.000.000₫ đến tài khoản Ngân hàng 1017539262 mang tên Nguyễn Thị H mở tại Ngân hàng V.

Quá trình điều tra, Đặng Văn T1Nguyễn Thị H không thừa nhận cho Khúc Thị Q vay số tiền 500.000.000 đồng trong thời hạn 03 tháng với lãi suất 3000đ/1 triệu/1 ngày. Thửa đất diện tích 908m2 ở thôn K, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang là do Q bán cho T1, H với giá 500.000.000 đồng. Số tiền 45.000.000 đồng không phải là tiền cắt lãi mà do HQ thoả thuận cho H giữ lại để làm thủ tục nộp thuế phí khi chuyển nhượng, sang tên quyền sử dụng đất. Số tiền 30.000.000 đồng chị D chuyển vào tài khoản Ngân hàng của H là tiền Quân trả cho H do ngày 21/01/2021, sau khi H giữ lại 45.000.000 đồng của Q thì Q lại vay lại của H 25.000.000 đồng và tiền Quân trả tiền thuê nhà cho H. Do lời khai của Đặng Văn T1, Nguyễn Thị H mâu thuẫn với lời khai của Khúc Thị Q và anh Đinh Đức H2, Cơ quan điều tra đã tiến hành T1, H, Q, H2 đối chất với nhau nhưng các bên vẫn giữ nguyên lời khai của mình.

Tại bản cáo trạng số: 118/CT- VKS - HS ngày 03 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H, Đặng Văn T1 về tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ, giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng đối với bị cáo và đề xuất ý kiến xử phạt các bị cáo như sau:

Căn cứ vào khoản 2, 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 15; Điều 57 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H từ 06 đến 08 tháng tù về tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/6/2023.

Căn cứ vào khoản 2, 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 15; Điều 57 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Đặng Văn T1 từ 06 đến 08 tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/6/2023.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Đặng Văn T1, Nguyễn Thị H mỗi bị cáo 30.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,

- Trả lại bị cáo Nguyễn Thị H 01 điện thoại di động Iphone 11 promax, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại Khúc Thị Q 01 bản gốc GCNQSD đất số BG 232036, số vào sổ cấp GCNQSD đất GCN: CH00374; quyết định cấp số 1056/QĐ-UBND do UBND huyện L cấp ngày 23/9/2011 mang tên Khúc Thị Q, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về biện pháp tư pháp

- Truy thu của Khúc Thị Quân số tiền 500.000.000 đồng các bị cáo Nguyễn Thị HĐặng Văn T1 đã cho Khúc Thị Q vay đế sung ngân sách nhà nước.

- Truy thu của các bị cáo Nguyễn thị H4Đặng Văn T1 số tiền 16.667.000đồng sung Ngân sách nhà nước.

- Buộc các bị cáo Nguyễn thị H4Đặng Văn T1 trả lại cho Khúc Thị Quân S tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 58.333.000 đồng.

* Án phí: Áp dụng Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà các bị cáo khai nhận đúng hành vi phạm tội, không có ý kiến gì về bản kết luận điều tra và thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là hoàn toàn đúng hành vi các bị cáo đã thực hiện.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Khúc Thị Q khai đúng lời khai như đã khai tại cơ quan điều tra.

Người làm chứng Đinh Đức H2 khai xác định chị Q nhờ anh hỏi vay tiền hộ, biết bị cáo T1 có tiền cho vay nên giới thiệu cho QT1 gặp nhau để thỏa thuận vay nợ, anh không được bàn bạc hay hưởng lợi gì trong việc vay nợ giữa hai bên.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa lời khai của các bị cáo với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ căn cứ khẳng định trong các ngày 19, 21/01/2021 Đặng Văn T1Nguyễn Thị H đã có hành vi cho Khúc Thị Q vay số tiền 500.000.000 đồng, với mức lãi suất 3000đ/1 triệu/1 ngày (tức 108%/năm) trong thời hạn 03 tháng để thu lãi số tiền 135.000.000 đồng, số tiền lãi này sau khi trừ đi tiền lãi theo mức lãi suất cao nhất 20% được quy định trong Bộ luật dân sự là 25.000.000 đồng, T1, H sẽ thu lợi bất chính số tiền 110.000.000 đồng. Q đã trả lãi cho T1, H được số tiền 75.000.000 đồng tuy nhiên do sau đó Q không có tiền nên đã không tiếp tục trả lãi được cho T1, H. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị H, Đặng Văn T1 đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn truy tố các bị cáo theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các hoạt động tín dụng, kinh doanh tiền tệ, xâm phạm lợi ích của công dân. Lợi dụng nhu cầu vay tiền để giải quyết các vấn đề cấp bách liên quan đến đời sống của những người vay tiền nhưng họ lại không có đủ điều kiện vay tiền của các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng của Nhà nước, để cho vay với mức lãi suất vượt gấp nhiều lần lãi suất cao nhất được quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính số tiền lớn nên cần một bản án nghiêm khắc để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của các bị cáo thì thấy:

Về nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo Nguyễn Thị HĐặng Văn T1 đều có nhân thân tốt.

Về vai trò của các bị cáo: Các bị cáo Đặng Văn T1Nguyễn Thị H là đồng phạm giản đơn, khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có vai trò ngang nhau.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; Là người thờ cúng liệt sỹ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Mặc dù các bị cáo đều có nhân thân tốt nhưng số tiền thu lợi bất chính lớn, thủ đoạn tinh vi. Để đảm bảo tính răng đe giáo dục và phòng ngừa chung, cần phải xử phạt các bị cáo hình phạt tù có thời hạn cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, tuy nhiên xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, mục đích phạm tội chưa đạt nên áp dụng Điều 15, Điều 57 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo mức án như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Hành vi cho vay lãi nặng của các bị cáo nhằm thu lợi bất chính nên cần áp dụng hình phạt tiền bổ sung để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

[6] Về biện pháp tư pháp

- Đối với số tiền 500.000.000 đồng là tiền mà các bị cáo đã cho Khúc Thị Q vay cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, số tiền này Khúc Thị Q chưa trả lại cho các bị cáo nên số tiền này cần truy thu của Khúc Thị Q để sung Ngân sách nhà nước;

- Về số tiền lãi các bị cáo sẽ thu từ quân là 110.000.000 đồng, Q đã trả cho các bị cáo 75.000.000 đồng, còn 35.000.000 đồng do Q không có tiền nên chưa trả. Số tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự (20%) các bị cáo đã thu từ Q là 25.000.000 đồng trong 3 tháng, nhưng Q mới trả được cho các bị cáo 02 tháng nên cần truy thu sung Ngân sách nhà nước số tiền lãi của 02 tháng là 16.667.000đồng.

- Số tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 58.333.000 đồng cần buộc các bị cáo trả lại cho Khúc Thị Q.

[7] Về vật chứng của vụ án:

Đối với các tài liệu thu giữ khi khám xét khẩn cấp tại nhà Nguyễn Thị H mang tên Chu Thế T5, sinh năm 1972, Mông Thị N, sinh năm 1970, cùng trú tại tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nguyễn Thị T6, sinh năm 1982, Trương Văn Đ, sinh năm 1976, Trương Tuấn P, sinh năm 2002, trú tại tổ dân phố N, thị trấn C, huyện L; Nguyễn Thị L, sinh năm 1953, Nông Thị X, sinh năm 1962, cùng trú tại tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L; Nguyễn Văn B, sinh năm 1992, trú tại tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, quá trình điều tra xác định các giấy tờ, tài liệu trên không liên quan đến hành vi phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của T1, H nên ngày 04/9/2013, CQĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại các đồ vật tài liệu gồm: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (viết tắt là GCNQSD đất) mang tên hộ ông Nguyễn Văn B; 01 GCNQSD đất số BD 188306 mang tên bà Nguyễn Thị H3, ông Hà Văn T4; 01 GCNQSD đất số BU654676 mang tên Nguyễn Thị H3; 01 GCNQSD đất số CO455107 mang tên hộ bà Nguyễn Thị L; 01 GCNQSD đất số CO445076 mang tên hộ bà Nông Thị X; 01 GCNQSD đất số AN979907 mang tên bà Nguyễn Thị H3; 01 GCNQSD đất số AL 547184 mang tên hộ bà Nguyễn Thị H3; 02 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đề ngày 30/01/2022; 01 bộ hồ sơ gồm 06 tờ A4 bản gốc gồm: tờ đo đạc chỉnh lý địa chính thửa đất, đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất đề ngày 13/12/2019, bản mô tả ranh giới thửa đất đề ngày 30/10/2018, đơn xin đề nghị thẩm định nhu cầu sử dụng thửa đất, thẩm định điều kiện cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đề ngày 13/12/2019; 01 giấy xác nhận ghi ngày 30/12/2019, kết quả đo đạc, chỉnh lý thửa đất đề ngày 30/10/201 cho Đặng Thị P1, sinh năm 1993, trú tại thổ dân phố L, thị trấn C, huyện L (là con gái của T1, H) là có căn cứ. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết

Đối với các đồ vật, tài liệu gồm 01 hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 19/01/2021 có chữ ký của Khúc Thị Q, Đặng Văn T1Đinh Đức H2 (bản gốc); 01 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/01/2022 có công chứng, có chữ ký của Khúc Thị Q, Đặng Văn T1, Nguyễn Thị H (bản gốc); 01 Hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên, không đề ngày tháng, có chữ ký của Khúc Thị Q, Đặng Văn T1 (bản gốc); 01 bản tự khai gồm 02 tờ A4 đề tháng 3/2023, có tên người khai là Nguyễn Thị H, không có chữ ký; 01 bản tự khai gồm 02 tờ A4 đề tháng 4/2023 có tên người khai là Nguyễn Thị H, không có chữ ký; 01 quyển sổ bìa in nhiều hình, có in chữ ở bìa “Haplus”, tờ đầu có viết chữ, các tờ khác không viết chữ là tài liệu liên quan đến hành vi cho vay lãi nặng nên cơ quan điều tra đã đưa vào hồ sơ vụ án là phù hợp.

Đối với số vật chứng còn lại: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,

- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 11 promax của Nguyễn Thị Hoàn t lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Đối với 01 bản gốc GCNQSD đất số BG 232036, số vào sổ cấp GCNQSD đất GCN: CH00374; quyết định cấp số 1056/QĐ-UBND do UBND huyện L cấp ngày 23/9/2011 mang tên Khúc Thị Q cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[8] Về án phí: Căn cứ Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các Điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 2, 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 15; Điều 57 Bộ luật hình sự;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 06 tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 07/6/2023.

  2. Căn cứ vào khoản 2, 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 15; Điều 57 Bộ luật hình sự;

    Xử phạt bị cáo Đặng Văn T1 06 tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/6/2023.

    Phạt bổ sung đối với các bị cáo Đặng Văn T1, Nguyễn Thị H mỗi bị cáo 30.000.000đồng sung công quỹ nhà nước.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,
    • - Trả lại bị cáo Nguyễn Thị H 01 điện thoại di động Iphone 11 promax, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
    • - Trả lại Khúc Thị Q 01 bản gốc GCNQSD đất số BG 232036, số vào sổ cấp GCNQSD đất GCN: CH00374; quyết định cấp số 1056/QĐ-UBND do UBND huyện L cấp ngày 23/9/2011 mang tên Khúc Thị Q, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  4. Về biện pháp tư pháp
    • - Truy thu của Khúc Thị Quân số tiền 500.000.000 đồng các bị cáo Nguyễn thị H4Đặng Văn T1 đã cho Khúc Thị Q vay đế sung ngân sách Nhà nước.
    • - Truy thu của các bị cáo Nguyễn thị H4Đặng Văn T1 số tiền 16.667.000đồng sung Ngân sách nhà nước.
    • - Buộc các bị cáo Nguyễn thị H4Đặng Văn T1 trả lại cho Khúc Thị Quân S tiền các bị cáo thu lợi bất chính là 58.333.000 đồng.
  5. Về án phí: Áp dụng Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

    Bị cáo Đặng Văn T1Nguyễn Thị H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Các bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Công an huyện Lục Ngạn;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lương Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 146/2023/HSST ngày 21/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 146/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hoàn và đồng phạm - Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger