|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 146/2024/HSST
Ngày 21/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Anh Văn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Xuân
- Ông Trần Quang Lưu
Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà Phương, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Du.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Tiên Du tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại phòng xét xử Toà án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 152/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2024/QĐXXST-HS ngày 30/7/2024, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Công H, sinh năm 1999;
- Nguyễn Tiến H1, sinh năm 1991;
- Nguyễn Đức Tuấn Đ2, sinh năm 1999;
- Trương Thị T2, sinh năm 1998;
- Phàn Thị N1, sinh năm 2002;
- Nguyễn Tiến N2, sinh năm 2004;
- Lý Ngọc V1, sinh năm 1996;
- Trần Viết T5, sinh năm 2000;
Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã M, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân; con ông Nguyễn Công Đ, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1977; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/3/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên toà.
Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: Thôn L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân; con ông Nguyễn Tiến H2, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ tư; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/3/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Có mặt tại phiên toà.
Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã M, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân; con ông Nguyễn Đức T1, sinh năm 1959 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962; Gia đình có 07 chị em, bị cáo là con thứ bảy; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/3/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên toà.
Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trương Văn G, sinh năm 1967 (đã chết) và bà Hà Thị V, sinh năm 1969; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; chồng: Hà Văn M, sinh năm 1987 (đã ly hôn);
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/3/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên toà.
Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Phàn A T3, sinh năm 1980 (đang thụ án) và bà Tẩn Thị M1, sinh năm 1981; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất; chồng, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/3/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên toà.
Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: Thôn K, xã H, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1982 và bà Trần Thị T4, sinh năm 1985; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/3/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên toà.
Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: Tổ N, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lý Văn H3, sinh năm 1968 và bà Nông Thị N3, sinh năm 1972; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/3/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên toà.
Tên gọi khác: Không; Hộ khẩu thường trú: Khu P, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Viết V2, sinh năm 1971 (đã chết) và bà Ngô Thị V3, sinh năm 1971; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/3/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Bỉnh A, sinh năm; giới tính: Nam; hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã M, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Bỉnh T6, sinh năm: 1996; giới tính: Nam; hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã M, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
- Chị Vàng Thị L; sinh năm: 2000; hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt.
- Chị Hà Thị L1; sinh năm 2001; hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Chị Tòng Thị H4; sinh năm 1999; hộ khẩu thường trú: Bản C, C, M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Thiết V4; sinh năm 1995; hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Đình Q, sinh năm 1998; giới tính: Nam; hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã M, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Bá T7, sinh năm 1995; giới tính: Nam; hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã M, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
- Chị Hoàng Thị L2, sinh ngày 12/11/2007; hộ khẩu thường trú: Thôn E, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp cho chị Hoàng Thị L2: Ông Hoàng Văn Đ3 (Bố đẻ); sinh năm 1979; hộ khẩu thường trú: xã C, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa và bà Bùi Thị H5 (mẹ đẻ); hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền cho chị Hoàng Thị L2: Bà Nguyễn Thị L3 – Phó chi hội phụ nữ thị trấn L. Vắng mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công H: Ông Nguyễn Bá H6; Công ty L4; Đoàn luật sư thành phố H. Có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức Tuấn Đ2: Ông Nguyễn Thanh B; Văn phòng L5; Đoàn luật sư tỉnh B. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 14 giờ 50 phút ngày 29 tháng 2 năm 2024, tại Quán K thuộc địa phận thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh của ông Nguyễn Bỉnh A, sinh năm 1967, HKTT tại thôn N, xã M, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (do anh Nguyễn Bá T7, sinh năm 1995 và anh Nguyễn Đình Q, sinh năm 1998 là quản lý và nhân viên phục vụ); Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phối hợp với Công an xã H kiểm tra hành chính, phát hiện tại tầng 1 của quán có nhóm 12 đối tượng có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy gồm: Nguyễn Công H, sinh năm 1999, Nguyễn Đức T8 Đ2, sinh năm 1999 cùng hộ khẩu thường trú (HKTT) tại thôn N, xã M, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Trần Viết T5, sinh năm 2000, HKTT tại khu P, phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Tiến N2, sinh năm 2004, HKTT tại khu K, phường H, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; Lý Ngọc V1, sinh năm 1996, HKTT tại thôn N, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Nguyễn Tiến H1, sinh năm 1991, HKTT tại thôn L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Vàng Thị L, sinh năm 2000, HKTT tại tổ dân phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Phàn Thị N1, sinh năm 2002, HKTT tại thôn P, xã M, huyện Y, tỉnh Hà Giang; Hà Thị L1, sinh năm 2001, HKTT tại thôn L, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Trương Thị T2, sinh năm 1998, HKTT tại thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Thanh Hóa; Tòng Thị H4, sinh năm 1999, HKTT tại C, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Hoàng Thị L2, sinh ngày 12/11/2007, HKTT tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Qua điều tra ban đầu xác định nhóm 12 đối tượng trên có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng 202 và 203 của quán K từ khoảng 9 giờ ngày 29/2/2024 đến khi bị kiểm tra, phát hiện.
Kết quả kiểm tra nước tiểu, xác định Công H, Tiến H1, V1, N2, T5, Đ2, N1, L2, T2, L1, L dương tính với ma túy Ketamine; H4 âm tính với ma túy.
Cùng ngày 29/2/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp quán K.
Vật chứng thu giữ:
Thu giữ tại mặt bàn quầy lễ tân tầng 1 có 01 thẻ căn cước công dân mang tên Nguyễn Công H, có bám dính chất bột màu trắng. Cơ quan công an đã niêm phong thẻ căn cước công dân vào phong bì thư, ký hiệu M1;
Thu giữ tại sàn nhà dưới gầm kệ chứa đồ trong kho chứa đồ sát với phòng 203 có 01 đĩa sứ hình bầu dục màu trắng, trên mặt đĩa có bám dính chất bột màu trắng. Cơ quan Công an tiến hành niêm phong đĩa sứ này vào phong bì thư ký hiệu M3;
Tại bản Kết luận giám định số 623/KL-KTHS ngày 04/3/2024 của Phòng Kl Công an tỉnh B, kết luận:
Chất bột màu trắng bám dính trên 01 (một) căn cước công dân trong phong bì thư ký hiệu M1 có khối lượng 0,0013 gam là ma túy, loại ma túy: ketamine.
Chất bột màu trắng bám dính trên 01 (một) đĩa sứ màu trắng hình bầu dục trong phong bì thư ký hiệu M2 có khối lượng 0,0047 gam là ma túy, loại ma túy: ketamine.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,0060gam ketamine.
Quá trình điều tra xác định nội dung vụ việc như sau:
Nguyễn Công H, Nguyễn Đức Tuấn Đ2, Trần Viết T5; Nguyễn Tiến N2, Lý Ngọc V1, Nguyễn Tiến H1, Vàng Thị L có quan hệ quen biết, cùng làm công nhân tại Công ty S ở Khu công nghiệp V, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.
Khoảng 7 giờ sáng ngày 29/02/2024, sau khi hết giờ làm việc, cả nhóm rủ nhau đi ăn sáng và uống rượu tại quán ăn sáng thuộc phường P, thành phố T. Trong quá trình ăn uống, Công H, Tiến H1, N2, T5, V1, Đ2 cùng rủ nhau đi hát và sử dụng ma túy tại quán K. Cả nhóm rủ L thì L nói là mệt, không muốn đi nhưng Công H rủ đi hát cùng cho vui nên L đã đồng ý đi. Do cả nhóm không có tiền nên Công H nói ứng tiền ra trước để mua ma túy hẹn hết bao nhiêu tiền thì Tiến H1, Đ2, T5, N2, V1 sẽ cùng góp tiền trả Công Hải khi lĩnh lương, dự kiến là ngày 7/3/2024. Sau đó, cả nhóm đi đến quán K ở thôn N, xã H còn riêng Công H đi sau và gọi điện cho Tiến H1 hỏi “có bao nhiêu người chơi để biết mua kẹo”, Tiến H1 hiểu ý C hỏi có bao nhiêu người sử dụng ma túy ở trong phòng hát để mua ma túy kẹo cho đủ nên nói là “khoảng 5, 6 người”. Sau đó, Công H có gọi qua ứng dụng Messenger cho đối tượng tên H6 ở thành phố T hỏi mua 2.000.0000đ tiền ma túy ke và kẹo rồi hẹn H6 mang ma túy đến quán ăn Đ4 ở thôn N (gần quán K) cho H.
Sau đó Đ2, N2, T5 đến quán K trước đặt phòng hát, còn Công H, Tiến H1, V1, L đến sau. Khi đến cửa quán K, Đ2 dùng số điện thoại 0865.532.xxx gọi điện cho anh T7 đặt phòng hát, T7 mở cửa quán và dẫn Đ2 lên phòng hát 202 rồi mang hoa quả và xô đá lên phòng để phục vụ. Sau đó, Công H gọi điện thoại cho anh Nguyễn Thiết V4, sinh năm 1995, HKTT tại thôn C, xã L bảo anh V4 cử 5 nữ nhân viên đến đến quán K để phục vụ bấm bài và rót bia, anh V4 đồng ý. Sau đó, Công H mượn xe mô tô (không rõ biển kiểm soát) của người bạn tên T8 – là bạn mới quen, điều khiển xe đi đến phòng trọ của nhân viên nữ, chở lần lượt 05 nữ nhân viên gồm: T2, L1, H4, L2, N1 đến quán K và đưa lên phòng hát 202 để hát cùng mọi người sau đó thì trả xe. Tại phòng 202, Công H cùng mọi người uống bia và hát. Quá trình hát thì H6 gọi qua ứng dụng M2 nói Công H ra lấy ma túy, Công H đi bộ ra bụi cỏ gần ngã 3, gần quán ăn Đ4 thì tìm thì thấy 01 túi nylon màu trắng bên trong có 2 gói ma túy ke màu trắng và 05 viên ma túy kẹo hình tròn màu xám, Công H lấy gói ma túy trên cầm ở tay và để lại số tiền 2.000.000 đồng tại bụi cỏ rồi đi bộ về quán K. Trước đó, Công H lấy chiếc đĩa sứ màu trắng hình bầu dục và chiếc ống hút được quấn bằng tờ tiền polime 10.000 đồng có sẵn ở phòng kho bên cạnh phòng 203 cầm sang phòng 202 để mọi người sử dụng ma túy. Tại đây, Công H bỏ gói ma túy ra lấy 05 viên ma túy kẹo để trên mặt bàn để mọi người sử dụng. Thấy Công H bỏ ma túy kẹo ra thì Tiến H1 lấy ma túy kẹo ra đưa cho Trương 1/2 viên, Nghiệp 1 viên, L ½ viên và đưa cho N1 02 viên và nói “chia cho mọi người dùng” thì N1 đưa cho L1 và L2 thì L1, L2, N1 sử dụng mỗi người ½ viên; Công Hải, Tiến H1 và V1 tự sử dụng mỗi người ½ viên; mọi người sử dụng ma túy kẹo bằng hình thức đưa kẹo vào miệng và uống kèm nước ngọt có gas để nuốt vào cơ thể. Còn Đ2, H4 và T2 không sử dụng ma túy kẹo. Khoảng 9 giờ 20 phút cùng ngày, do loa phòng 202 bị rè, tiếng bé nên cả nhóm chuyển hết đồ và ma túy sang phòng 203 cạnh đó để hát và tiếp tục sử dụng ma túy. Tại phòng 203, Công H đưa 1 túi nylon chứa ma túy ke cho T2 cùng chiếc thẻ căn cước công dân của Công H và nói “xào cho mọi người dùng đi”, thì T2 và N1 mang chiếc đĩa sứ trắng (do Công H mang từ phòng để đồ bên cạnh sang) vào phòng vệ sinh lấy bật lửa gas màu đỏ (có sẵn trên mặt bàn) và đốt giấy vệ sinh dưới đáy đĩa cho nóng rồi đổ ma túy ke vào đĩa, lấy chiếc thẻ căn cước công dân của Công H “xào ke” (làm nhỏ ma túy ke rồi kẻ thành các đường thẳng để mọi người hít bằng mũi vào cơ thể). Sau khi “xào” xong T2 và N1 mang ra và đưa cho mọi người dùng tờ tiền Polime mệnh giá 10.000 đồng được quấn tròn để hít ma túy. Lúc này, Công H và mọi người gồm: Tiến H1, Nghiệp V5, Đ2, T5, L, T2, L2, N1, L1 thay nhau sử dụng ma túy. Khoảng 2 tiếng sau khi hết ma túy ke trên đĩa, Công H đưa tiếp cho T2 1 túi nylon chứa ma túy ke để xào, T2 tiếp tục cầm chiếc đĩa sứ và bật lửa mang vào trong phòng vệ sinh để đốt nóng đĩa bằng giấy vệ sinh, thấy vậy N1 cũng đi vào và lấy giấy vệ sinh đốt để T2 đốt, hơ nóng đĩa. Sau đó, T2 mang chiếc đĩa sứ ra để ở ghế trong phòng đổ ma túy ke ra đĩa rồi dùng thẻ căn cước công dân của Công H xào và chia thành các đường ke để cho mọi người sử dụng. Xào ke xong T2 đưa cho mọi người tiếp tục sử dụng gồm: Công Hải, Tiến H1, N2, T5, Đ2, V5, T2, L2, N1, L1, L còn N1 dùng điện thoại (do điện trong phòng tối, không xác định được là điện thoại của ai) soi cho T2 và mọi người sử dụng ma túy còn H4 không sử dụng ma túy ke. Cả nhóm vừa hát vừa sử dụng ma túy đến khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày thì anh T7 quản lý chạy lên nói với mọi người là có Công an đến kiểm tra, cả nhóm bỏ lại đồ chạy ngay xuống tầng 1 của quán thì bị lực lượng Công an kiểm tra hành chính. Còn anh Q và anh T7 do lo sợ việc mở cửa cho thuê phòng hát karaoke khi đã bị đình chỉ hoạt động quán nên đã tắt điện phòng 203, dọn dẹp phòng, anh Q trong quá trình dọn phòng đã cất đĩa sứ tại mặt sàn nhà dưới gầm kệ chứa đồ trong kho chứa đồ sát với phòng 203 (Q không biết đĩa sứ có bám dính ma túy) và mang thẻ căn cước công dân của Công H xuống mặt bàn quầy lễ tân tầng 1, lực lượng Công an đến kiểm tra, khám xét và thu giữ vật chứng như trên. Ngày 01/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bắt tạm giam đối với Công H, Tiến H1, T2, N1, T5, N2, V5, Đ2.
* Vật chứng thu giữ:
- Mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong theo quy định.
- Ngày 29/2/2024:
- + T2 giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu xanh, trong gắn thẻ sim là điện thoại của T2, không sử dụng vào việc phạm tội.
- + Nghiệp giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu vàng trong gắn thẻ sim và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha, màu sơn T9 – Đen – Bạc, biển kiểm soát (BKS) 99B1-533.88 (kèm giấy chứng nhận đăng ký xe) là điện thoại và xe của N2, N2 sử dụng chiếc xe trên để đi sử dụng trái phép chất ma túy, không sử dụng điện thoại vào việc phạm tội.
- + V5 giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu đỏ trong gắn thẻ sim và 01 xe mô tô nhãn hiệu Vespa, màu trắng, BKS 29V7-56.11 là điện thoại và xe của V5, V5 sử dụng chiếc xe trên để đi sử dụng trái phép chất ma túy, không sử dụng điện thoại vào việc phạm tội .
- + Đ2 giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu hồng trong gắn thẻ sim (là điện thoại của Đ2 sử dụng để liên hệ đặt phòng hát) và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn Trắng – Đen, BKS 89B-168.16 (kèm 01 giấy chứng nhận đăng ký xe) là xe của Đ2 mượn của anh Nguyễn Bỉnh T6, sinh năm 1996, HKTT tại thôn N, xã M, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Qua tra cứu chiếc xe đăng ký tên Đỗ Cao V6, sinh năm 1973 ở xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T đã xác minh tuy nhiên tại địa phương không có ai tên tuổi địa chỉ như trên. Qua tra cứu chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Anh T6 khai mua chiếc xe trên cách đây 3 năm tại 01 cửa hàng bán xe máy cũ tại Hà Nội, anh T6 cho Đ2 mượn để đi làm, không biết Đ2 sử dụng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy.
- + Trương giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A31, màu đen trong gắn thẻ sim là điện thoại của T5, T5 không sử dụng vào việc phạm tội.
- + Nằm giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu trắng trong gắn thẻ sim là điện thoại của N1, N1 không sử dụng vào việc phạm tội .
- + Tiến Hải giao nộp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A03S, màu đen trong gắn thẻ sim và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha, BKS 99C1-455.94 là xe và điện thoại của Tiến H1, Tiến H1 sử dụng chiếc xe vào việc phạm tội.
- + Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max kèm thẻ sim của Công H: Quá trình bị Công an kiểm tra, Công Hải làm rơi, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thông báo truy tìm vật tuy nhiên chưa thu hồi được (BL410).
- + Đối với 01 ống hút quấn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000đ hiện chưa thu hồi được.
Tại Cáo trạng số 76/CT-VKSTD ngày 26/6/2024 của VKSND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh truy tố các bị cáo: Nguyễn Công H, Nguyễn Tiến H1, Nguyễn Đức Tuấn Đ2, Trương Thị T2, Phàn Thị N1, Nguyễn Tiến N2, Lý Ngọc V1, Trần Viết T5 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Các bị cáo thừa nhận bản cáo trạng của viện kiểm sát đã truy tố hành vi của các bị cáo là đúng và khai nhận: Khoảng 7 giờ ngày 29/2/2024, tại quán ăn sáng thuộc phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Công H, Nguyễn Đức Tuấn Đ2, Trần Viết T5, Nguyễn Tiến N2, Lý Ngọc V1, Nguyễn Tiến H1 cùng rủ nhau đi hát và sử dụng ma túy tại quán K. Cả nhóm thống nhất Công H ứng số tiền 2.000.000đ để mua ma túy về cùng sử dụng, khi nào có tiền thì Đ2, T5, N2, V1, Tiến H1 sẽ cùng góp tiền trả cho Công H. Công Hải mua được 01 túi nylon màu trắng bên trong có 02 gói ma túy ke màu trắng và 05 viên ma túy kẹo hình tròn màu xám.
Trong khoảng thời gian từ 09 giờ đến 14 giờ 40 phút ngày 29/02/2024, tại quán K thuộc thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Công H, Nguyễn Tiến H1, Nguyễn Đức Tuấn Đ2, Trương Thị T2, Phàn Thị N1, Nguyễn Tiến N2, Lý Ngọc V1, Trần Viết T5 đã có hành vi tổ chức cho bản thân và Vàng Thị L, Hà Thị L1, Hoàng Thị L2 sinh ngày 12/11/2007 (16 tuổi 03 tháng 17 ngày) sử dụng trái phép chất ma túy. Cụ thể: Công Hải, Tiến H1, Đ2, N2, V1 và Trương cùng rủ nhau, bàn bạc góp tiền mua ma túy để sử dụng; Công Hải trực tiếp ứng tiền và mua ma túy, gọi và đón 05 nhân viên nữ đến quán; Tiến H1 chia ma túy kẹo cho T5, N2, Vàng Thị L và Phàn Thị N1 để sử dụng; Nằm đưa ma túy kẹo cho Hà Thị L1, Hoàng Thị L2 sử dụng; T2 và N1 dùng bật lửa đốt giấy vệ sinh hơ nóng đĩa, xào ma túy Ketamine cho bản thân và Công H, Đ2, T5, N2, V1, Tiến H1, L, L2 cùng sử dụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Công H, Nguyễn Tiến H1, Nguyễn Đức Tuấn Đ2, Trương Thị T2, Phàn Thị N1, Nguyễn Tiến N2, Lý Ngọc V1, Trần Viết T5 bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Công H từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng, thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Đức T8 Đạt từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng, thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Trương Thị T2 từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng, thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Phàn Thị N1 từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng, thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Tiến N2 từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng, thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Lý Ngọc V1 từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng, thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Trần Viết T5 từ 07 năm đến 07 năm 03 tháng, thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s, điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 54, Điều 58 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Tiến H1 từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm, thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong theo quy định, 01 đĩa sứ, 01 bật lửa gas.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước:
01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha, màu sơn T9 – Đen – Bạc, biển kiểm soát (BKS) 99B1-533.88 (kèm giấy chứng nhận đăng ký xe) là chiếc xe Nghiệp điều khiển đi sử dụng trái phép chất ma túy.
01 xe mô tô nhãn hiệu Vespa, màu trắng, BKS 29V7-56.11 là điện thoại và xe của V1, V1 sử dụng chiếc xe trên để đi sử dụng trái phép chất ma túy, không sử dụng điện thoại vào việc phạm tội.
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu hồng trong gắn thẻ sim (là điện thoại của Đ2 sử dụng để liên hệ đặt phòng hát).
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A03S, màu đen trong gắn thẻ sim và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha, BKS 99C1-455.94 là xe và điện thoại của Tiến H1, Tiến H1 sử dụng chiếc xe vào việc phạm tội.
Trả cho T2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu xanh, trong gắn thẻ sim là điện thoại của T2, không sử dụng vào việc phạm tội, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả cho N2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu vàng trong gắn thẻ sim không sử dụng điện thoại vào việc phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả cho V1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu đỏ trong gắn thẻ sim không sử dụng vào việc phạm tội nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả cho anh Nguyễn Bỉnh T6 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn Trắng – Đen, BKS 89B-168.16 (kèm 01 giấy chứng nhận đăng ký xe) là xe của Đ2 mượn của anh T6, anh T6 cho Đ2 mượn để đi làm, không biết Đ2 sử dụng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy.
Trả cho T5 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A31, màu đen trong gắn thẻ sim là điện thoại của T5, T5 không sử dụng vào việc phạm tội, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả cho N1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu trắng trong gắn thẻ sim là điện thoại của N1, N1 không sử dụng vào việc phạm tội, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả cho Công H 01 căn cước công dân.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Các bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra đã khai đầy đủ phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và sự việc xảy ra đúng như lời khai của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công H – ông Nguyễn Bá H6 đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Công H.
Về nguyên nhân phạm tội, động cơ phạm tội do các bị cáo tuổi đời còn trẻ chưa đủ bản lĩnh chống lại cám dỗ, các bị cáo sử dụng ma tuý không vào mục đích kiếm lời, các bị cáo đều là bạn làm cùng công ty.
Về nhân thân: bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Bị cáo có ông nội, ông ngoại có công với cách mạng.
Đề nghị HĐXX áp dụng điểm điểm b, c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự tuyên phạt bị cáo 7 năm 06 tháng tù giam.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức T8 Đ2 – ông Nguyễn Thanh B đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Đức T8 Đ2 và tuyên phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt.
Vì các bị cáo đều là công nhân lao động có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Bị cáo có ông nội là thương binh, từng tham gia kháng chiến chống pháp, bố có tham gia quân đội bảo vệ biên giới phía Bắc. Bị cáo phạm tội lần đấu, ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo.
Đại diện Viện kiểm sát tranh luận:
Đối với bị cáo Đ2: Về hành vi của bị cáo Đ2, đại diện viện kiểm sát đã xem xét đến nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ cũng như vai trò của bị cáo khi đề nghị mức hình phạt, vì vậy đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên mức hình phạt
Đối với bị cáo H: Xét thấy vai trò của bị cáo là cáo nhất, các bị cáo bị áp dụng hai tình tiết định khung là tổ chức sử dụng ma tuý cho nhóm từ 02 người trở lên và cho người từ 13 đến 18 tuổi nên đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên đề nghị mức hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên toà.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an huyện T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa, đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 7 giờ ngày 29/2/2024, tại quán ăn sáng thuộc phường P, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Công H, Nguyễn Đức Tuấn Đ2, Trần Viết T5, Nguyễn Tiến N2, Lý Ngọc V1, Nguyễn Tiến H1 cùng rủ nhau đi hát và sử dụng ma túy tại quán K. Cả nhóm thống nhất Công H ứng số tiền 2.000.000đ để mua ma túy về cùng sử dụng, khi nào có tiền thì Đ2, T5, N2, V1, Tiến H1 sẽ cùng góp tiền trả cho Công H. Công Hải mua được 01 túi nylon màu trắng bên trong có 02 gói ma túy ke màu trắng và 05 viên ma túy kẹo hình tròn màu xám.
Trong khoảng thời gian từ 09 giờ đến 14 giờ 40 phút ngày 29/02/2024, tại quán K thuộc thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Công H, Nguyễn Tiến H1, Nguyễn Đức Tuấn Đ2, Trương Thị T2, Phàn Thị N1, Nguyễn Tiến N2, Lý Ngọc V1, Trần Viết T5 đã có hành vi tổ chức cho bản thân và Vàng Thị L, Hà Thị L1, Hoàng Thị L2 sinh ngày 12/11/2007 (16 tuổi 03 tháng 17 ngày) sử dụng trái phép chất ma túy. Cụ thể: Công Hải, Tiến H1, Đ2, N2, V1 và Trương cùng rủ nhau, bàn bạc góp tiền mua ma túy để sử dụng; Công Hải trực tiếp ứng tiền và mua ma túy, gọi và đón 05 nhân viên nữ đến quán; Tiến H1 chia ma túy kẹo cho T5, N2, Vàng Thị L và Phàn Thị N1 để sử dụng; Nằm đưa ma túy kẹo cho Hà Thị L1, Hoàng Thị L2 sử dụng; T2 và N1 dùng bật lửa đốt giấy vệ sinh hơ nóng đĩa, xào ma túy Ketamine cho bản thân và Công H, Đ2, T5, N2, V1, Tiến H1, L, L2 cùng sử dụng.
Do vậy, có đủ căn cứ xét xử các bị cáo: Nguyễn Công H, Nguyễn Tiến H1, Nguyễn Đức Tuấn Đ2, Trương Thị T2, Phàn Thị N1, Nguyễn Tiến N2, Lý Ngọc V1, Trần Viết T5 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b,c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng truy tố là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, xâm phạm sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, ma túy cũng là nguyên nhân của các tội phạm hình sự khác. Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm và cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Công H có ông nội là Nguyễn Công B1 được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì, ông ngoại là Nguyễn Duy C1 là liệt sĩ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Phan Thị N4 là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc diện hộ cận nghèo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Đức Tuấn Đ2 có bố tham gia kháng chiến bảo vệ biên giới phía Bắc, ông nội có thời gian tham gia kháng chiến chống Pháp nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Tiến H1 có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 và nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; có vai trò không đáng kể trong vụ án do vậy áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo là phù hợp.
Do vậy cũng xem xét giảm nhẹ một phần khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.
[5] Về vật chứng:
Đối với số ma tuý còn lại sau giám định cần tịch thu, tiêu huỷ là đúng pháp luật.
Đối với 01 đĩa bầu dục màu trắng có bám dính chất bột màu trắng được xác định là ma tuý, các bị cáo sử dụng trong quá trình phạm tội cần tịch thu, tiêu huỷ là đúng pháp luật.
Đối với 01 chiếc bật lửa gas màu đỏ, các bị cáo sử dụng trong quá trình phạm tội cần tịch thu, tiêu huỷ là đúng pháp luật.
Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha, màu sơn T9 – Đen – Bạc, biển kiểm soát (BKS) 99B1-533.88 (kèm giấy chứng nhận đăng ký xe), bị cáo N2 sử dụng chiếc xe trên để đi sử dụng trái phép chất ma túy, cần tịch thu, sung quỹ là đúng pháp luật.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Vespa, màu trắng, BKS 29V7-56.1, bị cáo V1 sử dụng chiếc xe trên để đi sử dụng trái phép chất ma túy cần tịch thu, sung quỹ là đúng pháp luật.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha, BKS 99C1-455.94, bị cáo Tiến H1 sử dụng chiếc xe vào việc phạm tội cần tịch thu, sung quỹ là đúng pháp luật.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu hồng trong gắn thẻ sim, là điện thoại của bị cáo Đ2 sử dụng để phạm tội cần tịch thu, sung quỹ là đúng pháp luật.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu xanh, trong gắn thẻ sim là điện thoại của bị cáo T2, bị cáo T2 không sử dụng vào việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo T2, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án là đúng pháp luật.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu vàng trong gắn thẻ sim là điện thoại của bị cáo N2, bị cáo N2 không sử dụng vào việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo N2, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án là đúng pháp luật.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu đỏ trong gắn thẻ sim điện thoại của bị cáo V1, bị cáo V1 không sử dụng vào việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo V1, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án là đúng pháp luật.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn Trắng – Đen, BKS 89B-168.16 (kèm 01 giấy chứng nhận đăng ký xe) là xe của bị cáo Đ2 mượn của anh Nguyễn Bỉnh T6, sinh năm 1996, HKTT tại thôn N, xã M, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Qua tra cứu chiếc xe đăng ký tên Đỗ Cao V6, sinh năm 1973 ở xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên. Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T đã xác minh tuy nhiên tại địa phương không có ai tên tuổi địa chỉ như trên. Qua tra cứu chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Anh T6 khai mua chiếc xe trên cách đây 3 năm tại 01 cửa hàng bán xe máy cũ tại Hà Nội, anh T6 cho bị cáo Đ2 mượn để đi làm, không biết Đ2 sử dụng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy cần trả lại cho anh Nguyễn Bỉnh T6 là đúng pháp luật.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A31, màu đen trong gắn thẻ sim là điện thoại của bị cáo T5, bị cáo T5 không sử dụng vào việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo T5, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án là đúng pháp luật.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu trắng trong gắn thẻ sim là điện thoại của bị cáo N4, bị cáo N4 không sử dụng vào việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo N4, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án là đúng pháp luật.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A03S, màu đen trong gắn thẻ sim là điện thoại của bị cáo Tiến H1, bị cáo Tiến H1 sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước là đúng pháp luật.
Đối với 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Công H cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Công H là đúng pháp luật.
[6] Liên quan trong vụ án:
Đối với đối tượng tên H6 ở thành phố T là người bán ma túy cho Công H: Quá trình điều tra xác định trong quá trình Công an kiểm tra, do lo sợ, Công H đã làm rơi điện thoại, Công H không nhớ mật khẩu đăng nhập vào ứng dụng Messenger; không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể, chỉ dựa vào lời khai của Công H không đủ căn cứ để xác định con người cụ thể, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với Vàng Thị L: Quá trình điều tra xác định khi nhóm của Công H cùng rủ nhau đi hát và sử dụng ma túy, L không tham gia, bàn bạc, không góp tiền, không có hành vi gì giúp sức cho các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, không biết nguồn gốc ma túy ở đâu mà có. Do vậy, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý mà chỉ giáo dục nhắc nhở đối với L là đúng pháp luật.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hà Thị L1, Hoàng Thị L2, Vàng Thị L: Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, hình thức cảnh cáo là đúng pháp luật.
Đối với ông Nguyễn Bỉnh A là chủ quán K: Quán K do ông A làm chủ đã có hành vi: “Hoạt động kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự khi bị thu hồi Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự” và “ Người đứng đầu cơ sở kinh doanh Karaoke để xảy ra hoạt động sử dụng trái phép chất ma túy trong khu vực do mình quản lý” vi phạm điểm a khoản 4 Điều 12 và Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Công an huyện T có văn bản đề nghị Chủ tịch UBND huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Ngày 26/6/2024, Ủy ban nhân dân huyện T ra quyết định số 31/QĐ-XPHC đối với ông Bỉnh A, hình thức phạt tiền số tiền 30.000.000₫ là đúng pháp luật.
Đối với hành vi của anh T7, Q, V4: Khi thuê phòng và liên hệ để gọi nữ nhân viên thì anh T7, Q, V4 không biết việc nhóm của Công H thuê phòng, thuê nữ nhân viên để sử dụng ma túy do vậy Cơ quan điều tra giáo dục nhắc nhở đối với T7, Q, V4 là đúng pháp luật.
[7] Về án phí: Các bị cáo: Nguyễn Công H, Nguyễn Tiến H1, Nguyễn Đức Tuấn Đ2, Trương Thị T2, Nguyễn Tiến N2, Lý Ngọc V1, Trần Viết T5 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Phàn Thị N1 là người thuộc hộ nghèo, bị cáo xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm nên không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Nguyễn Công H, Nguyễn Tiến H1, Nguyễn Đức Tuấn Đ2, Trương Thị T2, Phàn Thị N1, Nguyễn Tiến N2, Lý Ngọc V1, Trần Viết T5 đã phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt Nguyễn Công H 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt Nguyễn Đức Tuấn Đ2 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt Trương Thị T2 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt Phàn Thị N1 07 (bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt Nguyễn Tiến N2 07(bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt Lý Ngọc V1 07(bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt Trần Viết T5 07(bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt Nguyễn Tiến H1 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định theo quy định pháp luật.
Tịch thu tiêu huỷ 01 đĩa bầu dục màu trắng có bám dính chất bột màu trắng được xác định là ma tuý, 01 chiếc bật lửa gas màu đỏ, các bị cáo sử dụng trong quá trình phạm tội
Tịch thu, sung quỹ:
01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha, màu sơn T9 – Đen – Bạc, biển kiểm soát (BKS) 99B1-533.88 (kèm giấy chứng nhận đăng ký xe), bị cáo N2 sử dụng chiếc xe trên để đi sử dụng trái phép chất ma túy
01 xe mô tô nhãn hiệu Vespa, màu trắng, BKS 29V7-56.1, bị cáo V1 sử dụng chiếc xe trên để đi sử dụng trái phép chất ma túy.
01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha, BKS 99C1-455.94, bị cáo Tiến H1 để đi sử dụng trái phép chất ma túy.
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu hồng trong gắn thẻ sim, là điện thoại của bị cáo Đ2 sử dụng để phạm tội.
01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sámung A03S, màu đen kèm thẻ sim là điện thoại của bị cáo Tiến H1 sử dụng để phạm tội.
Trả lại cho các bị cáo, người liên quan:
Trả lại cho bị cáo T2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu xanh, trong gắn thẻ sim nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho bị cáo N2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu vàng trong gắn thẻ sim nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho bị cáo V1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu đỏ trong gắn thẻ sim nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho anh Nguyễn Bỉnh T6 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn Trắng – Đen, BKS 89B-168.16 (kèm 01 giấy chứng nhận đăng ký xe).
Trả lại cho bị cáo T5 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A31, màu đen trong gắn thẻ sim nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho bị cáo N1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu trắng trong gắn thẻ sim nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Công H 01 căn cước công dân mang tên bị cáo Nguyễn Công H.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo: Nguyễn Công H, Nguyễn Tiến H1, Nguyễn Đức Tuấn Đ2, Trương Thị T2, Nguyễn Tiến N2, Lý Ngọc V1, Trần Viết T5 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Phàn Thị N1 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo, người bào chữa, người đại diện theo uỷ quyền, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ khi nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Anh Văn |
Bản án số 146/2024/HSST ngày 21/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 146/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
