Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146/2025/DS-PT

Ngày: 18 – 6 – 2025

V/v “T/c quyền sử dụng đất,

yêu cầu bồi thường thiệt hại

do tài sản bị xâm phạm”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Hoàng Khải

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Hùng

Bà Đào Thị Thuỷ

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Kiều Trinh – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Đặng Kim Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, công khai xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 07/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng 01 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2024/DS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐ-PT ngày 19 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 44/2025/QĐ-PT ngày 19 tháng 3 năm 2025; Thông báo về việc dời ngày xét xử số 10/TB-TA ngày 18 tháng 4 năm 2025; Thông báo về việc dời ngày xét xử số 12/TB-TA ngày 05 tháng 5 năm 2025; Thông báo về việc dời ngày xét xử số 15/TB-TA ngày 26 tháng 5 năm 2025 và Thông báo về việc dời ngày xét xử số 20/TB-TA ngày 10 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Mai Thị Đ; Địa chỉ Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Mai Thị Đ: Ông Nguyễn Đức M; Địa chỉ Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

- Bị đơn:

  1. Ông Mai Văn N; Địa chỉ Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  2. Ông Mai Thanh N1; Địa chỉ Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Lâm Tấn N2; Địa chỉ 2/5/13 B, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

- Người kháng cáo: ông Nguyễn Đức M là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Mai Thị Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án như sau:

Trong đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày: Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha, mẹ ông N và bà Đ để lại, các bên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất tranh chấp hiện trạng là đường nước chung mà ông N và bà Đ sử dụng từ trước đến nay. Hàng năm nước triều cường lên cao nhưng phía ông MaiThanh N3 là người trực tiếp sử dụng đất của ông Mai Văn N (Do ông N đã lớn tuổi không còn sử dụng đất mà cho ông N3) đã lấy đi nắp cống ngăn nước đầu ngoài sông để nước tràn ngập vào vườn cây ăn trái của nguyên đơn. Ngoài ra bị đơn ông Mai Văn N lấn chiếm phần đất khoản 250m². Khi nước ngập gây thiệt hại cụ thể cho nguyên đơn như sau: Thiệt hại 1000 con cá tai tượng, giá mua 4.000 đồng/ con với số tiền là 4.000.000 đồng, thức ăn nuôi cá 7 bao cảm giá 280.000 đồng/ bao với số tiền là 1.960.000 đồng, công nuôi 4 tháng với số tiền là 4.000.000 đồng, tổng cộng là 9.960.000 đồng và 01 nắp cống bằng gỗ. Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn Mai Văn N, ông Mai Thanh N1 (người trực tiếp sử dụng đất) trả lại phần đất theo đo đạc thực tế đầu ngoài giáp sông K cho đủ chiều ngang 32m, đầu trong trả lại phần đất đã mất thuộc thửa 530 cho đủ 134m². Yêu cầu ông Mai Thanh N1 bồi thường số tiền thiệt hại về cá 9.960.000 đồng, trả lại nắp cống đã lấy đi và lắp vào vị trí cũ.

Quá trình tố tụng bị đơn Mai Văn N trình bày: Bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc trả lại phần đất lấn chiếm phía trước giáp sông K do phần đất của hai bên đều dư. Nguyên đơn và bị đơn là anh em ruột cùng sử dụng chung đường nước hơn 60 năm nay không tranh chấp. Bị đơn đề nghị phần cống (đường nước đầu ngoài) hai bên tiếp tục sử dụng chung, khi bên nào cần mở cống thoát nước để phục vụ vườn cây ăn trái thì thông báo cho nhau. Bị đơn đồng ý trả lại phần đất phía sau theo đo đạc bên nguyên đơn đã thiếu khoản 134m². Bị đơn thống nhất lược đồ đo đạc và thỏa thuận giá.

Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn Mai Thanh N1 trình bày: Thống nhất lời trình bày của cha là ông Mai Văn N. Bị đơn đề nghị phần đường nước hai bên tiếp tục sử dụng chung, khi bên nào cần mở cống thoát nước để phục vụ vườn cây ăn trái thì thông báo cho nhau. Bị đơn đồng ý trả lại phần đất phía sau theo đo đạc bên nguyên đơn đã thiếu khoản 134m² theo đo đạc thực tế. Do cha là ông Mai Văn N đã già yếu nên cho đất bị đơn sử dụng (chưa tách giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc bồi thường số tiền thất thoát cá là 9.960.000 đồng và trả lại một nắp cống do bị đơn không gây thiệt hại cho nguyên đơn, không lấy đi nắp cống, hiện nay nắp công vẫn còn sử dụng. Nếu nguyên đơn có chứng cứ chứng minh thì bị đơn đồng ý bồi thường.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 94/2024/DS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang tuyên xử như sau:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Mai Thị Đ đối với bị đơn Mai Văn N, Mai Thanh N1 về việc đòi phần đất 133,3 m² theo lược đồ ký hiệu là IIIc. (Kèm theo lược đồ)
  2. Không chấp nhận yêu cầu đòi lại phần đất ở vị trí số 1 và 2 theo lược đồ ký hiệu là IIIa diện tích 5m² và IIIb diện tích 34,1 m². (Kèm theo lược đồ)
  3. Không chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Mai Thị Đ đối với bị đơn Mai Thanh N1 về việc bồi thường thiệt hại với số tiền 9.960.000 đồng

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Đức M có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để phân định ranh giới đất giữa bà Mai Thị Đ và ông Mai Văn N; yêu cầu ông Mai Thanh N1 bồi thường thiệt hại do tự ý tháo nắp cống gây ngập vườn và thất thoát cá nuôi.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Đại diện ủy quyền của nguyên đơn có mặt trình bày giữ nguyên yêu cầu kháng cáo yêu cầu bị đơn trả lại phần đất ở vị trí số 1 và 2 theo lược đồ ký hiệu là IIIa diện tích 5m² và IIIb diện tích 34,1 m² và bồi thường thiệt hại với số tiền 9.960.000đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang trình bày quan điểm:

- Về chấp hành pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Xét phần đất của bị đơn Mai Văn N theo đo đạc thực tế bị đơn sử dụng là 2.072,7m², so sánh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn tại thửa 532 có diện tích là 1.930m². Như vậy, bị đơn Mai Văn N sử dụng dư 142,7m². Nguyên đơn và bị đơn sử dụng đất trên thực tế đều dư so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Xét thấy tại thửa 530 cấp cho nguyên đơn có diện tích 4.035m², đo đạc thực tế nguyên đơn sử dụng 3.901,7m² còn thiếu 133,3m², các bị đơn đồng ý trả lại cho nguyên đơn 133,3m² là diện tích đất tại thửa này của nguyên đơn là đủ diện tích. Xét nguồn gốc đất nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận của cha, mẹ tặng cho và sử dụng chung đường nước từ trước năm 1975 cho đến nay không có tranh chấp, sử dụng vào việc tưới tiêu và thoát nước chung của hai thửa đất, ngoài ra phía sau đường nước còn cho một hộ dân sử dụng chung. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện nguyên đơn trình bày đường nước do bà Đ đào cho ông N sử dụng từ 1997-1998 đến nay hơn 20 năm, ngoài đường nước này ông N không còn đường nước nào khác nếu công nhận cho nguyên đơn sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với các bị đơn tại vị trí số IIIa và IIIb không được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là có cơ sở.

Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn đối với bị đơn về 01 nắp cống bằng gỗ hiện vẫn còn do các bị đơn đã lại nên nguyên không yêu cầu.

Đối với kháng cáo yêu cầu bị đơn Mai Thanh N1 yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản trị giá 9.960.000 đồng. Nguyên đơn cho rằng bị đơn tháo nắp cống dẫn đến nước ngập cá thoát ra ngoài nhưng tại thời điểm đó không xác định được do triều cường hay do hành vi cụ thể của bị đơn gây ra như Điều 584 BLDS 2015 quy định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì phải có hành vi xâm phạm tài sản mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Tại phiên tòa hôm nay đại diện nguyên đơn thừa nhận không cung cấp có hóa đơn, chứng từ về mua cá giống, hóa đơn thức ăn và các chi phí khác thuê nhân công. Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ mới nên không có cơ sở chấp nhận.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tại phiên toà phúc thẩm, đại diện ủy quyền của nguyên đơn xác định nội dung kháng cáo yêu cầu ông Mai Văn N, ông Mai Thanh N1 lại phần đất ở vị trí số 1 và 2 theo lược đồ ký hiệu là IIIa diện tích 5m² và IIIb diện tích 34,1m² và bồi thường thiệt hại với số tiền 9.960.000₫.

[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu ông Mai Văn N, ông Mai Thanh N1 trả lại phần đất diện tích ở vị trí số 1 và 2 theo lược đồ ký hiệu là IIIa diện tích 5m² và IIIb diện tích 34,1m². Xét nguồn gốc đất nguyên đơn, bị đơn đều thống nhất là của cha, mẹ cho và đã sử dụng chung vào việc tưới tiêu và thoát nước chung của các thửa 529, 530, 531, 532, ngoài ra phía sau đường nước còn cho một hộ dân sử dụng chung từ trước năm 1975 cho đến nay không có tranh chấp. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu công nhận phần đường nước thuộc quyền sử dụng riêng sẽ ảnh hưởng lớn đến quyền lợi chung của bị đơn và những hộ dân đã sử dụng chung từ trước năm 1975 cho đến nay hơn 40 năm là không phù hợp, trái với đạo đức xã hội không đảm bảo nguyên tắc thực hiện quyền đối với bất động sản liền kề, không đảm bảo nhu cầu hợp lý của việc khai thác bất động sản, đồng thời làm cản trở đến việc tưới nước, tưới tiêu trong canh tác của bất động sản liền kề sử dụng lối đi chung. Mặt khác nguyên đơn cũng đã thừa nhận quyền sử dụng đất là của cha, mẹ để lại và đã sử dụng làm đường nước sử dụng chung, chưa xác định được quyền riêng, nên việc nguyên đơn khởi kiện để yêu cầu đòi lại vị trí số 1 và 2 là quyền sử dụng chung của nguyên đơn, bị đơn và những hộ dân đều hưởng quyền chung không thể phân chia, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ.

[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu bị đơn Mai Thanh N1 bồi thường thiệt hại 1000 con cá tai tượng, giá mua 4.000 đồng/ con với số tiền là 4.000.000 đồng, thức ăn nuôi cá 7 bao cám giá 280.000 đồng/ bao với số tiền là 1.960.000 đồng, công nuôi 4 tháng với số tiền là 4.000.000 đồng, tổng cộng là 9.960.000 đồng. Nguyên đơn cho rằng bị đơn đã tháo nắp cống ngăn nước đầu ngoài sông để nước tràn ngập vào vườn cây ăn trái của bị đơn gây thiệt hại phải bồi thường;

trình bày của nguyên đơn không được bị đơn thừa nhận, nguyên đơn không đưa ra được chứng cứ chứng minh, nguyên đơn tháo nắp cống gây thiệt hại cho nguyên đơn, quá trình thẩm định cấp sơ thẩm cũng đã xác định nắp cống hiện nay vẫn còn hoạt động để ngăn nước; Mặt khác, nguyên đơn cho rằng thiệt hại cá tai tượng, nhưng không chứng minh loại cá, số lượng cá chi phí hợp lý cho việc đầu tư nuôi cá, lời khai của nguyên đơn không được bị đơn thừa nhận, nguyên đơn không đưa ra được chứng cứ hợp lý để chứng minh cho yêu cầu nên cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp. Nguyên đơn kháng cáo yêu cầu xét xử phúc thẩm chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn, nhưng cũng không cung cấp thêm được chứng cứ mới có giá trị pháp lý chứng minh bị đơn gây thiệt hại, chứng minh tài sản bị thiệt hại và giá trị thiệt hại, nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Mai Thị Đ.
  2. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 94/2024/DS-ST ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn Mai Thị Đ được miễn theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án, ngày 18/6/2025.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - TAND huyện C;
  • - CC THADS huyện C;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Hoàng Khải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 146/2025/DS-PT ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất, bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

  • Số bản án: 146/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 17 tháng 9 năm 2024, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Đức M có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để phân định ranh giới đất giữa bà Mai Thị Đ và ông Mai Văn N; yêu cầu ông Mai Thanh N1 bồi thường thiệt hại do tự ý tháo nắp cống gây ngập vườn và thất thoát cá nuôi.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger