|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 146/2025/HNGĐ-ST Ngày: 03-4-2025 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Phạm Thị Mai Hoa. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Dương Thị Kim Hồng. |
| Bà Nguyễn Thị Bích Liên. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Bích Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 636/2024/TLST- HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 72/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị V, sinh ngày 11/9/1984. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu dân cư T, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Xuân T, sinh ngày 01/4/1981. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Khu dân cư T, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị T1, sinh năm 1963. Địa chỉ: Khu dân cư T, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt và đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người được chị V ủy quyền về việc giao nhận văn bản tố tụng: Bà Bùi Ngọc D, sinh năm 2001. Địa chỉ: Số A T, phường P, thành phố H, tỉnh Hải Dương.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trần Thị V trình bày:
Về quan hệ vợ chồng: Chị và anh Trần Xuân T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 29/3/2002. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống khiến anh chị thường xuyên xảy ra tranh cãi. Vì hoàn cảnh kinh tế chị và anh T làm thủ tục sang lao động tại Đài Loan từ năm 2016 đến nay, giữa vợ chồng không còn có sự chia sẻ nên cuộc sống chung không có hạnh phúc. Bản thân anh chị đã tìm cách hóa giải mâu thuẫn nhưng không thành. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Trần Minh H, sinh ngày 16/5/2003 hiện đã trưởng thành và Trần Thị Thu T2, sinh ngày 11/10/2007. Khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao con chung Trần Thị Thu T2 cho chị chăm sóc, nuôi dưỡng, chị tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Do hiện nay chị đang lao động tại nước ngoài nên chị đề nghị Tòa án tạm giao cháu T2 cho mẹ đẻ chị là bà Trần Thị T1 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị không có mặt tại Việt Nam.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Con chung Trần Thị Thu T2 có nguyện vọng ở cùng với mẹ là chị Trần Thị V và bà ngoại.
Tại lời khai của ông Trần Văn N, bà Nguyễn Thị N1 (bố mẹ đẻ của anh Trần Xuân T) thể hiện: Anh T hiện đang sinh sống tại Đài Loan, địa chỉ cụ thể thì ông bà không biết, nhưng anh T thường xuyên liên lạc qua điện thoại với gia đình. Ông bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho anh T biết. Anh T và chị V được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương và đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi kết hôn anh chị chung sống cùng gia đình ông bà, thời gian sau này vợ chồng đi Đài Loan để phát triển kinh tế. Mặc dù cùng ở nước ngoài nhưng vợ chồng mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị V có đơn xin ly hôn là quyền quyết định của anh chị, ông bà đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định pháp luật để giải quyết. Sau khi nhận các văn bản tố tụng, ông bà đã thông báo cho anh T biết. Anh T không gửi văn bản thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ án nhưng có trao đổi với ông bà qua điện thoại và xác định vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm nay, chị V chặn mọi liên hệ nên anh mong muốn tìm hiểu lý do tại sao chị V làm đơn xin ly hôn thì mới đưa ra quan điểm về việc giải quyết vụ án.
Tại lời khai của bà Trần Thị T1 (mẹ đẻ của chị Trần Thị V) thể hiện: Anh T và chị V kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn hợp pháp. Bà nắm được trong cuộc sống anh chị thường xuyên xảy ra tranh cãi. Mặc dù cùng lao động ở nước ngoài nhưng vợ chồng đã sống ly thân, không quan tâm, chia sẻ nên tình cảm ngày càng lạnh nhạt, xa cách. Gia đình bà đã nhiều lần khuyên bảo nhưng quan hệ hôn nhân không được cải thiện. Nay chị V có đơn xin ly hôn, bà đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết. Bà nhất trí với việc chị V ủy quyền cho bà chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Thị Thu T2 trong thời gian chị V ở nước ngoài và đề nghị giải quyết vắng mặt.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị V, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T1 vắng mặt và vẫn giữ nguyên quan điểm đã trình bày. Anh Trần Xuân T vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
- - Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (HĐXX) và các đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), bị đơn giấu địa chỉ.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 BLTTDS; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Về quan hệ hôn nhân: Xử chấp nhận cho chị Trần Thị V được ly hôn anh Trần Xuân T; Về con chung: Giao con chung là Trần Thị Thu T2, sinh ngày 11/10/2007 cho chị V chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị V không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Trong thời gian chị V không ở Việt Nam, tạm giao con chung Trần Thị Thu T2 cho Trần Thị T1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị V phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và xem xét, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, HĐXX nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Anh Trần Xuân T hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, có nơi cư trú trước khi xuất cảnh khu dân cư T, phường H, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
[1.2] Quá trình giải quyết vụ án, chị V không cung cấp được địa chỉ của anh T tại Đài Loan. Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu chị V và gia đình anh T cung cấp địa chỉ, nhưng chị V và gia đình anh T không cung cấp được. Ông Trần Văn N và bà Nguyễn Thị N1 (là bố, mẹ đẻ của anh T) xác định anh T vẫn liên lạc với gia đình, ông bà đã thông báo về việc chị V có đơn xin ly hôn, anh T không cung cấp địa chỉ và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án. Do vậy, căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo quy định.
[1.3] Tại phiên tòa, chị V, bà T1 vắng mặt, có quan điểm xin vắng mặt; Bị đơn anh T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng qua gia đình và niêm yết các văn bản tố tụng đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, do vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị V và anh Trần Xuân T kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh ngày 29/3/2002 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mặc dù cùng ở nước ngoài nhưng vợ chồng mỗi người ở một nơi và không còn quan tâm đến nhau. Anh Trần Xuân T không thể hiện quan điểm bằng văn bản nhưng thông qua việc liên lạc với gia đình, anh T xác định vợ chồng đã sống ly thân, anh đã tìm mọi biện pháp liên hệ nhưng chị V không muốn gặp gỡ, nói chuyện nên anh không đưa ra quan điểm về việc giải quyết vụ án. HĐXX xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị V và anh T đã trầm trọng, vợ chồng không ai quan tâm tới ai, mục đích hôn nhân không đạt được và được chứng minh thông qua lời khai của đại diện gia đình và của các đương sự. Do vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị Trần Thị V ly hôn anh Trần Xuân T là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị Trần Thị V và anh Trần Xuân T có hai con chung là Trần Minh H, sinh ngày 16/5/2003 và Trần Thị Thu T2, sinh ngày 11/10/2007. Cháu H đã trưởng thành nên HĐXX không xem xét. Chị V có quan điểm giao cháu T2 cho chị V chăm sóc, nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con và đề nghị giao con chung cho bà T1 (là mẹ đẻ chị V) chăm sóc cháu T2 trong thời gian chị V không có mặt tại Việt Nam. Bà T1 nhất trí theo đề nghị của V. Hội đồng xét xử xét thấy: Cháu T2 hiện đang ở cùng bà T1 và có nguyện vọng được ở cùng với mẹ và bà ngoại. Do đó, để đảm bảo sự ổn định và sự phát triển về mọi mặt của con chung, HĐXX chấp nhận giao cho chị Trần Thị V nuôi dưỡng con chung Trần Thị Thu T2, sinh ngày 11/10/2007 và chấp nhận sự tự nguyện của chị V không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với nguyện vọng của các đương sự và các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Trong thời gian chị V không ở Việt Nam, tạm giao cháu T2 cho bà T1 chăm sóc, nuôi dưỡng.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị V và anh T không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết. Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết phân chia tài sản chung sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật (nếu có).
[3] Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (về hôn nhân gia đình) theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị V ly hôn anh Trần Xuân T.
- Về con chung: Giao cho chị Trần Thị V chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Trần Thị Thu T2, sinh ngày 11/10/2007 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Chấp nhận sự tự nguyện của chị V không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Trong thời gian chị Trần Thị V không có mặt tại Việt Nam, tạm giao con chung là Trần Thị Thu T2, sinh ngày 11/10/2007 cho bà Trần Thị T1 chăm sóc, nuôi dưỡng.
Không ai được cản trở anh Trần Xuân T thực hiện quyền, nghĩa vụ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về án phí: Chị Trần Thị V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (Hôn nhân và gia đình). Đối trừ số tiền 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0005388 ngày 29/11/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.
- Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị V, anh Trần Xuân T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bà Trần Thị T1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Mai Hoa |
Bản án số 146/2025/HNGĐ-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 146/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị V xin ly hôn anh Trần Xuân T
