|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 146/2025/DS-PT Ngày 02 - 4 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng dịch vụ và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng |
——————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Trung
Các Thẩm phán: Ông Ninh Quang Thế
Ông Nguyễn Thành Lập
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Hữu Duy Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 24/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 214/2024/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 76/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn :
- Bà Võ Thị M, sinh năm 1996 (có mặt).
- Bà Võ Thị M1, sinh năm 1993 (mất năng lực hành vi dân sự).
Người đại diện theo pháp luật của bà M1:
- Ông Võ Thanh B, sinh năm 1964.
- Bà Tiêu Thị Ử, sinh năm 1964.
Người đại diện hợp pháp của bà M1: Bà Võ Thị M, sinh năm 1996 (Theo văn bản uỷ quyền ngày 04 tháng 3 năm 2024, có mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Võ Thị M1: Luật sư Lê Huỳnh N là Luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C.
- Bị đơn: Bà Cao Yến N1, sinh năm 1993 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Bà Võ Thị M là nguyên đơn; bà Cao Yến N1 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn và là người đại diện theo ủy quyền của ông B và bà Ử là bà Võ Thị M trình bày:
Bà Võ Thị M, người giám hộ cho bà Võ Thị M1 là vợ chồng ông Võ Thanh B và bà Tiêu Thị Ử yêu cầu bà Cao Yến N1 trả lại tiền chi phí xâm môi, chân mày, mí mắt cho bà M và bà M1 cụ thể như sau:
- Đối với yêu cầu của bà Võ Thị M: bà M yêu cầu bà N1 trả lại toàn bộ số tiền phun xăm là 1.200.000 đồng (số tiền này bà M đã trả trực tiếp cho bà N1); chi phí yêu cầu đến các cơ quan chức năng là 2.680.000 đồng; chi phí điều trị và chỉnh sửa chân mày, môi và mắt là 10.520.000 đồng.
- Đối với yêu cầu của bà Võ Thị M1: Tổng phí điều trị, chi phí đi lại phục vụ cho yêu cầu tại các cơ quan chức năng, chi phí đi giám định, chi phí chỉnh sửa mày, môi, mí mắt là 40.165.000 đồng (cụ thể các khoản tiền được trình bày cụ thể tại biên bản hòa giải ngày 09/4/2024 của Tòa án huyện C), tiền tổn thất về tinh thần theo quy định pháp luật và toàn bộ chi phí điều trị đến khi bà M1 hết bệnh.
- Bị đơn, bà Cao Yến N1 trình bày:
Bà Cao Yến N1 hành nghề xăm môi, mày, mí mắt (spa). Vào năm 2023, giữa bà N1, bà M và bà M1 thỏa thuận thống nhất bà N1 thực hiện việc mày, môi, mí mắt cho bà M và bà M1, được thực hiện tại nhà bà M và bà M1 ở ấp T, xã T, huyện C; với giá thỏa thuận của cả 02 người là 2.400.000 đồng/02 người (mỗi người 1.200.000 đồng).
Khi thực hiện xăm mày, môi, mí mắt cho bà M và bà M1 thì bà Cao Yến N1 chưa được cấp giấy chứng nhận hành nghề và chưa đăng ký kinh doanh nghề theo quy định.
Sau khi thực hiện xăm xong thì bà M trả cho bà N1 tổng cộng là 1.700.000 đồng, còn nợ lại 500.000 đồng.
Có thỏa thuận khi thực hiện xăm mà không phù hợp hoặc bị lỗi thì sẽ sửa lại theo yêu cầu của bà M và bà M1.
Việc xăm cho bà M và bà M1 đã thực hiện xong lần 1, có hẹn từ 03 đến 06 tháng để kiểm tra lại và dặm thêm cho đúng thỏa thuận.
Sau đó, bà M có liên hệ để thực hiện kiểm tra lại thì bà N1 đang bệnh nên đã hẹn lại 01 tuần để lên kiểm tra lại, nhưng chưa đến ngày hẹn, chưa được 03 tháng theo thỏa thuận thì bà M đã đưa đơn khởi kiện.
Nay bà N1 có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện như sau:
- Đối với yêu cầu bà M: thì đồng ý trả lại cho bà M chi phí xăm là 1.200.000 đồng và hỗ trợ chi phí đi chỉnh sửa lại là 2.000.000 đồng.
- Đối với yêu cầu bà M1: theo bà N1 biết thì việc xăm này không làm ảnh hưởng và gây ra bệnh tâm thần cho bà M1, nên việc yêu cầu bồi thường thì bà N1 không đồng ý. Nhưng chỉ đồng ý trả lại cho bà M1 tiền xăm là 500.000 đồng và hỗ trợ chi phí đi chỉnh sửa lại là 2.000.000 đồng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 214/2024/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau quyết định:
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị M.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Võ Thanh B và bà Tiêu Thị Ử về việc yêu bà Cao Yến N1 trả lại chi phí xăm môi, chân mày, mí mắt và bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bà Võ Thị M1.
Buộc bà Cao Yến N1 có trách nhiệm trả và hỗ trợ cho bà Võ Thị M với tổng số tiền là 6.613.000 đồng.
Buộc bà Cao Yến N1 có trách nhiệm trả và hỗ trợ cho bà Võ Thị M1 với tổng số tiền là 5.607.000 đồng; vợ chồng ông Võ Thanh B và bà Tiêu Thị Ử có quyền nhận và quản lý số tiền nêu trên cho bà M1.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 31/12/2024, bà Võ Thị M có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 13/01/2025, bà Cao Yến N1 có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Võ Thị M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; bà Cao Yến N1 rút lại yêu cầu kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Võ Thị M2 tranh luận: Từ khi thực hiện phun xăm tháng 7 năm 2023 đến tháng 10 năm 2023 có kết luận bà M1 bị bệnh tâm thần nên người đại diện của bà M1 yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần là có căn cứ.
Nguyên đơn, bà Võ Thị M tranh luận: Bà không tranh luận.
Bị đơn, bà Cao Yến N1 tranh luận: Bà không tranh luận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bà Võ Thị M, bà Võ Thị M1, bà Cao Yến N1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 214/2024/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của bà Võ Thị M, bà Cao Yến N1, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Bà Võ Thị M và bà Cao Yến N1 thừa nhận bà N1 có phun xăm chân mày, môi và mí mắt cho bà M, bà M1 vào ngày 21 tháng 7 năm 2023. Thoả thuận phun xăm trên bằng lời nói, không lập thành văn bản. Xét việc bà M với bà N1 thoả thuận bà N1 phun xăm chân mày, môi, mí mắt cho bà M, bà M1 là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc nhưng không thể hiện khối lượng công việc, chất lượng công việc hoàn thành. Khi thoả thuận việc phun xăm bà M không tìm hiểu kỹ xem bà N1 có đủ điều kiện thực hiện việc phun xăm hay không. Bà M cũng biết giá thực hiện việc phun xăm của bà N1 giá thấp hơn người khác. Khi thực hiện công việc phun xăm, bà N1 không được cơ quan chức năng cấp giấy chứng nhận hành nghề là trái quy định của pháp luật nên bà M, bà N1 đều có lỗi đối thiệt hại xảy ra nên án sơ thẩm xác định mỗi người chịu ½ thiệt hại là có căn cứ.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị M: Tiền chi phí đi lại thưa kiện tại Toà án, yêu cầu công an giải quyết số tiền 2.400.000 đồng không phải thiệt hại phát sinh từ hợp đồng nên không được chấp nhận. Tiền phun xăm 1.200.000 đồng, bà M đồng ý trả lại. Đây là sự tự nguyện của bà M nên được chấp nhận. Chi phí đi lại và mua thuốc do tác dụng phụ sau khi xăm số tiền 1.200.000 đồng là không có hóa đơn chứng từ; tiền chỉnh sửa chân mày, môi, mí mắt số tiền 9.600.000 đồng là chưa thực hiện nhưng án sơ thẩm buộc bà N1 bồi thường cho bà M chi phí thuốc điều trị 613.000 đồng và chi phí chỉnh sửa chân mày, môi, mí mắt 4.800.000 đồng là đã xem xét quyền và lợi ích hợp pháp của bà M. Ngoài ra, tại phiên tòa bà N1 rút yêu cầu kháng cáo. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà M.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị M1: Tiền chi phí đi lại thưa kiện tại Toà án, yêu cầu công an giải quyết số tiền 19.204.750 đồng không phải thiệt hại phát sinh từ hợp đồng nên không được chấp nhận. Tiền phun xăm 500.000 đồng, bà M đồng ý trả lại. Đây là sự tự nguyện của bà M nên được chấp nhận. Chi phí mua thuốc do tác dụng phụ sau khi xăm số tiền 320.000 đồng là không có hóa đơn chứng từ; tiền chỉnh sửa chân mày, môi, mí mắt số tiền 9.600.000 đồng là chưa thực hiện nhưng án sơ thẩm buộc bà N1 bồi thường cho bà M1 chi phí thuốc điều trị 307.000 đồng và chi phí chỉnh sửa chân mày, môi, mí mắt 4.800.000 đồng là đã xem xét quyền và lợi ích hợp pháp của bà M1. Ngoài ra, tại phiên tòa bà N1 rút yêu cầu kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người đại diện của bà M1.
[4] Xét yêu cầu bồi thường thiệt hại của người đại diện đương nhiên của bà M1 về việc yêu cầu bà N1 bồi thường thiệt hại do bị bệnh tâm thần. Hội đồng xét xử xét thấy, tại Kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số 47/2024/KL-GĐ ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Trung tâm P thuộc Bộ Y đối với bà Võ Thị M1 kết luận:
- Về y học: Hiện tại, đương sự có bệnh lý tâm thần: Rối loạn loạn thần cấp (F23-ICD10), giai đoạn bệnh thuyên giảm.
- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hiện tại, đương sự có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
- Nguyên nhân: Rối loạn loạn thần cấp là bệnh lý tâm thần nội sinh, chưa xác định được nguyên nhân cụ thể. Trong đó có vai trò của nhiều yếu tố: Nhân cách, yếu tố gia đình, sang chấn tâm lý,………”
Tại Công văn số: 47.2/PYTTNB ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Trung tâm P thuộc Bộ Y giải thích Kết luận giám định trên cụ thể: “Về nguyên nhân của bệnh lý tâm thần ở đương sự: Rối loạn loạn thần cấp là bệnh lý tâm thần nội sinh, chưa xác định được nguyên nhân cụ thể. Trong đó có vai trò của nhiều yếu tố: Nhân cách, yếu tố gia đình, sang chấn tâm lý. Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của Tổ chức Y tế Thế giới về các rối loạn tâm thần và hành vi hiện hành (ICD10), cùng các Hướng dẫn của Bộ Y cho thấy việc phun xăm chân mày, môi và mí mắt không phải là nguyên nhân dẫn đến bệnh lý tâm thần Rối loạn loạn thần cấp.” (Bút lục số 50). Như vậy, bà M cho rằng việc phun xăm dẫn đến việc bà Võ Thị M1 bị tâm thần là không có cơ sở. Do đó, án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại về tinh thần và chi phí chữa trị tâm thần cho bà M1 số tiền 10.540.250 đồng là có căn cứ nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà M1.
[5] Tại phiên tòa, các nguyên đơn không cung cấp chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn như nhận định trên. Bà Cao Yến N1 có yêu cầu rút yêu cầu kháng cáo nên đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bà Cao Yến N1.
[6] Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà Võ Thị M. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối kháng cáo của bà Cao Yến N1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 214/2024/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm có điều chỉnh cách tuyên án.
[7] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Võ Thị M, bà Cao Yến N1 phải chịu 300.000 đồng. Bà M, bà N1 mỗi người có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng, được chuyển thu án phí.
[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Võ Thị M, người đại diện hợp pháp của bà Võ Thị M1. Đình chỉ kháng cáo của bà Cao Yến N1.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 214/2024/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị M.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị M1.
Buộc bà Cao Yến N1 có trách nhiệm trả cho bà Võ Thị M số tiền 6.613.000 đồng.
Buộc bà Cao Yến N1 có trách nhiệm trả cho bà Võ Thị M1 số tiền 5.607.000 đồng; ông Võ Thanh B và bà Tiêu Thị Ử có quyền nhận và quản lý số tiền nêu trên thay cho bà M1.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, trường hợp người phải thi hành án không thanh toán xong các khoản tiền nêu trên, thì người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi với mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Buộc bà Cao Yến N1 phải chịu án phí với số tiền là 300.000 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.
- Bà Võ Thị M có nộp tạm ứng án phí với số tiền là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0012935 ngày 12 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân huyện Cái Nước, được nhận lại toàn bộ.
- Bà Võ Thị M1 được miễn nộp án phí.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Võ Thị M, bà Cao Yến N1 mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí. Ngày 31 tháng 12 năm 2024, bà M có nộp tạm ứng 300.000 đồng theo biên lai thu số 0019063 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, được chuyển thu. Ngày 13 tháng 01 năm 2025, bà N1 có nộp tạm ứng 300.000 đồng theo biên lai thu số 0019099 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, được chuyển thu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Trung |
Bản án số 146/2025/DS-PT ngày 02/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng dịch vụ và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Số bản án: 146/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng dịch vụ và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Đối với yêu cầu của bà Võ Thị M: bà M yêu cầu bà N1 trả lại toàn bộ số tiền phun xăm là 1.200.000 đồng (số tiền này bà M đã trả trực tiếp cho bà N1); chi phí yêu cầu đến các cơ quan chức năng là 2.680.000 đồng; chi phí điều trị và chỉnh sửa chân mày, môi và mắt là 10.520.000 đồng. - Đối với yêu cầu của bà Võ Thị M1: Tổng phí điều trị, chi phí đi lại phục vụ cho yêu cầu tại các cơ quan chức năng, chi phí đi giám định, chi phí chỉnh sửa mày, môi, mí mắt là 40.165.000 đồng (cụ thể các khoản tiền được trình bày cụ thể tại biên bản hòa giải ngày 09/4/2024 của Tòa án huyện C), tiền tổn thất về tinh thần theo quy định pháp luật và toàn bộ chi phí điều trị đến khi bà M1 hết bện
