|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 146/2025/DS-PT Ngày 20-3-2025. V/v "Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất; tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tòng.
Các Thẩm phán:
- Bà Phạm Thị Thuỳ Trang;
- Bà Phạm Thị Hồng Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đức Anh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gọn, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 21/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 02 năm 2025, về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 234/2024/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân Thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 73/2025/QĐ-PT ngày 12 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 25/2025/QĐ-PT ngày 10-3-2025; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Đ, sinh năm 1964; nơi cư trú: Ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Bị đơn: Ông Đặng Văn N, sinh năm 1957; nơi cư trú: Ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Đỗ Thanh T, sinh năm 1977; nơi cư trú: Khu phố D, thị trấn D, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; là người đại diện theo uỷ quyền; văn bản ủy quyền ngày 29-02-2024; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Bùi Thị K, sinh năm 1959; nơi cư trú: Ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của bà Bùi Thị K: Ông Đỗ Thanh T, sinh năm 1977; nơi cư trú: Khu phố D, thị trấn D, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; là người đại diện theo uỷ quyền; văn bản uỷ quyền ngày 29-02-2024; có mặt.
- Anh Đặng Quốc T1, sinh năm 1986; nơi cư trú: Ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
- Ngân hàng N1; địa chỉ trụ sở: Số B L, quận B, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Văn T2, Chức vụ: Phó Giám đốc Phụ trách điều hành A Chi nhánh thị xã T; theo Quyết định số 2665/QĐ-NHNo-PC, ngày 1-12-2022.
- Người kháng cáo: Bà Huỳnh Thị Đ là nguyên đơn; ông Đặng Văn N là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 05 tháng 5 năm 2023 và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Đ trình bày:
Bà được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26-11-2014, số vào sổ CH01689; đối với phần đất diện tích 217 m², thửa số 55, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp P, xã P, huyện T (nay là xã P, thị xã T). Phần đất này có nguồn gốc nhận chuyển nhượng năm 2014 của bà Đặng Thị V1 là chị gái của ông N. Khi nhận chuyển nhượng thì ranh đất phía trước nhà ra tới đường là hàng rào lưới B40 do bà V1 làm, ranh phía sau đất thì không có hàng rào; trên đất đã có căn nhà của bà V1 xây 03 vách tường, còn vách tường phía nhà ông N thì bà V1 không xây tường cũng không sử dụng chung vách tường với nhà ông N mà dùng bạt căng cách tường nhà ông N khoảng 10 cm từ trên nóc nhà tới dưới đất để nước mưa không chảy vào nhà; bà giữ nguyên hiện trạng căn nhà của bà V1 và sử dụng để sinh sống cho tới nay. Do giữa hai căn nhà có khoảng hở nước mưa chảy vào nhà nên năm 2015 bà hỏi ông N mượn vách tường và xin trùm kín mái tôn sang tường nhà ông N; ông N đồng ý nên bà đã trùm mái tôn kín sang tường nhà ông N. Năm 2017, khi bà đi bệnh viện về thì ông N đem “Tờ thỏa thuận trao đổi quyền sử dụng đất (đất thổ cư)” qua nói ký tên thì mới cho sử dụng vách tường để trùm mái tôn kín sang tường nhà ông N.
Lúc này có bà, con trai là anh T1 và con gái đang sống tại căn nhà này nhưng chỉ có bà và T1 đồng ý ký tên; việc ký tên này là do ông N ép buộc vì nếu không ký tên thì ông N không cho mượn vách tường. Đến năm 2019, khi bà bị té xe nằm bệnh viện C thì ông N tự ý đập phá mặt dựng phía trước nhà bà, phá hàng rào lưới B40 của nhà bà (lưới B40 này là ranh đất phía trước nhà) để ông N xây tường nhà lấn sang đất nhà bà.
Căn cứ Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất số 373/SĐ-HT ngày 14-6-2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T, bà khởi kiện: Yêu cầu ông N, bà K trả lại cho phần đất lấn ranh phía trước có diện tích (1,8 m² + 4,42 m² + 0,8 m²) = 7,02 m² và phần đất lấn ranh phía sau có diện tích 32,6 m².
Bà xác định việc bà và anh T1 có ký “Tờ thỏa thuận trao đổi quyền sử dụng đất (đất thổ cư)” ngày 05-9-2017 nhưng không có việc 05 tấc đất như nội dung giấy thỏa thuận. Năm 2015, sau khi bà được ông N đồng ý cho mượn vách tường thì bà đã trùm kín mái tôn sang tường nhà ông N, tới năm 2017 sau khi ông N ép buộc mẹ con bà ký “Tờ thỏa thuận trao đổi quyền sử dụng đất (đất thổ cư)” ngày 05-9-2017 thì bà cũng đã để cho ông N sử dụng phần đất phía sau nuôi gà. Nhưng tới năm 2019 thì ông N đã tự ý đập phá mặt dựng nhà bà để xây tường nhà phía trước, sau đó bà mua gạch về để xây tường nhà bà thì ông N ngăn cản và phá dỡ phần mái tôn nhà bà trùm sang tường nhà ông N. Nên bà không đồng ý với yêu cầu phản tố của ông N.
Bị đơn ông Đặng Văn N và người đại diện hợp trình bày:
Nguồn gốc đất của vợ chồng ông N, bà K là mua của em ruột ông N là ông Đặng Quang Đ1 (nguồn gốc là của cha mẹ để cho ông Đ1). Ông N, bà K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H00123, do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 11-9-2006. Nguồn gốc phần đất bà Đ đang ở cũng là của cha mẹ ông N nhưng không hiểu sao bà V1 là chị gái ông N lại được cấp giấy đất và bán lại cho bà Đ. Năm 2000 ông N, bà K cất nhà, sau thời gian rất lâu thì bà V1 mới cất nhà (là căn nhà bà Đ đang ở hiện nay). Lúc đầu bà V1 cất nhà bằng vách cây, một thời gian sau vách cây bị hư nên bà V1 mới mượn vách tường và 05 tấc đất nhà ông N để xây nhà ở. Vì là anh chị em trong nhà nên việc bà V1 mượn vách tường và 05 tấc đất chỉ nói miệng không có chứng cứ.
Đối với phần diện tích đất lấn ranh phía trước ông N thừa nhận có xây tường nhà lấn ranh của bà Đ diện tích 7,02 m², hiện do đã xây tường nhà kiên cố nên ông N xin được nhận diện tích đất này và trả lại bằng tiền cho bà Đ theo giá trị định giá của hội đồng định giá.
Đối với diện tích đất lấn ranh phía sau 32,6 m², ông N thừa nhận phần diện tích này có nguồn gốc là của bà Đ và nằm trong giấy đất của bà Đ. Tuy nhiên ngày 05-9-2017 giữa bà Đ, anh T1 (con bà Đ) và vợ chồng ông N, bà K đã thống nhất thỏa thuận trao đổi quyền sử dụng đất với nhau, cụ thể: Ông N, bà K cho bà Đ, anh T1 mượn vách tường và 05 tấc đất; ông N, bà K nhận phần diện tích đất phía sau 32,6 m²; nên ông N có yêu cầu phản tố: Công nhận cho ông N,
bà K được quyền sử dụng phần đất này theo đúng như nội dụng “Tờ thỏa thuận trao đổi quyền sử dụng đất (đất thổ cư)”, ngày 05-9-2017; vì thực tế bà Đ đã giao cho ông N, bà K sử dụng phần đất này từ năm 2017 tới nay, không tranh chấp. Theo “Tờ thỏa thuận trao đổi quyền sử dụng đất (đất thổ cư)”, ngày 05-9-2017 thì có thỏa thuận để lại 01 m ngang làm lối đi chung ra phía sau, ông N và bà K đồng ý trả lại bằng tiền theo giá trị định giá của hội đồng định giá.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị K và người đại diện hợp pháp trình bày:
Bà K là vợ của ông N, thống nhất với ý kiến và yêu cầu của ông N.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đặng Quốc T1 trình bày:
Anh là con của bà Đ, hiện đang sống cùng bà Đ tại phần đất tranh chấp; anh thống nhất với ý kiến và yêu cầu của bà Đ không bổ sung gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng N1 (A) trình bày:
Trong quá trình vay vốn bà Đ và anh T1 thực hiện đúng và đầy đủ các nội dung đã thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng sửa đổi bổ sung đã ký kết giữa khách hàng và A; khách hàng không vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với A. Do đó, A không có yêu cầu tham gia tố tụng trong vụ án và đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nhân dân các cấp.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 234/2024/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân Thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:
Căn cứ các Điều 129, 158, 166, 500, 501, 502, 503 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 100, 166, 167, 170 và 203 Luật Đất đai năm 2013; các Điều 26, 35, 39, 157, 158, 165, 166, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Đ về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” đối với bị đơn ông Đặng Văn N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị K.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Đặng Văn N về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất” với nguyên đơn bà Huỳnh Thị Đ.
Buộc ông Đặng Văn N và bà Bùi Thị K trả lại cho bà Huỳnh Thị Đ phần đất lấn ranh có diện tích 32,6m², thuộc thửa đất số 55, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Có tứ cận:
- - Hướng Bắc giáp thửa 54 dài 8,19m;
- - Hướng Nam giáp thửa 69 dài 9,02m;
- - Hướng Đông giáp thửa 55 dài 3,79m;
- - Hướng Tây giáp mương dài 3,82m.
(Có Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo)
Ông Đặng Văn N và bà Bùi Thị K được quyền sử dụng phần đất có diện tích 7,02m², thuộc thửa đất số 55, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. Có tứ cận:
- - Hướng Bắc giáp thửa 55 dài (3,78m + 10,71m);
- - Hướng Nam giáp thửa 69 dài (3,85m + 8,00m + 2,71m);
- - Hướng Đông giáp đường nhựa dài 0,46m;
- - Hướng Tây giáp thửa 55 dài 0,28m.
(Có Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo)
Buộc ông Đặng Văn N và bà Bùi Thị K có nghĩa vụ trả cho cho bà Huỳnh Thị Đ tiền giá trị đất là 27.378.000 đồng (hai mươi bảy triệu ba trăm bảy mươi tám nghìn đồng).
Các đương sự được quyền liên hệ Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Kiến nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH01689, do UBND huyện T cấp ngày 26-11-2014 cho bà Huỳnh Thị Đ đứng tên; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H00123, do UBND huyện T cấp ngày 11-9-2006 cho ông Đặng Văn N và bà Bùi Thị K đứng tên theo quyết định của Tòa án.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo; quyền, nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 18-12-2024 bà Huỳnh Thị Đ kháng cáo với nội dung: Buộc bị đơn trả lại diện tích đất lấn ranh là 7,02 m², không đồng ý nhận giá trị đất bằng tiền.
Ngày 19-12-2024 ông Đặng Văn N kháng cáo với nội dung: Đề nghị công nhận hợp đồng trao đổi đất diện tích 32,6 m².
Tại phiên toà phúc thẩm:
Bà Huỳnh Thị Đ trình bày ý kiến, với nội dung: Giữ nguyên nội dung kháng cáo, không đồng ý thoả thuận với bị đơn; đất tranh chấp nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà, đề nghị bị đơn trả lại đất, không đồng ý nhận tiền.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày: Các phần đất nguyên đơn tranh chấp thì bị đơn đã sử dụng ổn định từ năm 2017; đất giữa các bên đã có ranh rõ ràng; phần trống giữa 02 căn nhà thì ông N vẫn cho bà Đ gác mái tôn che chắn mưa; đề nghị giữ nguyên hiện trạng giữa các bên.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
- + Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án và quyết định đưa vụ án ra xét xử bảo đảm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
- + Về nội dung: Đề nghị không chấp yêu cầu kháng cáo của các đương sự, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Đối với diện tích đất lần ranh phía trước 7,02 m². Xét thấy, năm 2019 việc ông N, bà K xây tường nhà lấn ranh đất phía trước của bà Đ là có thật, việc này bị đơn thừa nhận. Bà Đ cũng thừa nhận biết việc này nhưng không có ý kiến cũng không ngăn cản; mặt khác, nếu tuyên đập bỏ tường nhà sẽ ảnh hưởng lớn tới kết cấu căn nhà của ông N, bà K và việc phá bỏ tường nhà (xây gạch kiên cố trị giá 60.534.180 đồng) để trả lại diện tích 7,02 m² (trị giá 27.378.000 đồng) sẽ gây thiệt hại giá trị sử dụng của tài sản. Do đó, cấp sơ thẩm giao cho ông N, bà K được tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất 7,02 m² và buộc ông N, bà K trả lại tiền giá trị đất cho bà Đ là phù hợp, đảm bảo sự ổn định và có căn cứ pháp luật.
[3] Đối với diện tích đất lấn ranh phía sau 32,6 m², thấy rằng:
[3.1] Phần đất diện tích 32,6 m² có nguồn gốc là của bà Đ và hiện vẫn nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Đ; được bị đơn thừa nhận.
[3.2] Các bên ký với nhau “Tờ thỏa thuận trao đổi quyền sử dụng đất (đất thổ cư)”, ngày 05-9-2017 nhưng vi phạm về mặt hình thức do không được công chứng, chứng thực theo quy định tại khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013; đến nay các bên cũng không tiến hành thủ tục điều chỉnh biến động trên giấy chứng nhận nhận quyền sử dụng đất; nên văn bản này không có hiệu lực. Mặc khác, bị đơn không có tài liệu, chứng cứ chứng minh trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình có 05 tấc đất như nội dung được đề cập trong văn bản nêu trên.
[3.3] Mặc dù, bị đơn đang sử dụng phần đất phía sau, nhưng lại ngăn cản không cho nguyên đơn sử dụng vách tường và thực tế khi xem xét thẩm định tại
chỗ gia đình nguyên đơn cũng không sử dụng chung vách tường nhà, phần mái tôn trùm sang tường nhà ông N đã bị dở bỏ do bà K yêu cầu. Như vậy bị đơn vi phạm nội dung thỏa thuận. Hiện nay, bị đơn không đồng ý với “Tờ thỏa thuận trao đổi quyền sử dụng đất (đất thổ cư)”, ngày 05-9-2017.
[3.4] Từ phân tích nêu trên, thấy rằng cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu đòi lại diện tích đất lấn ranh phía sau là 32,6 m² của nguyên đơn là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[4] Nguyên đơn, bị đơn kháng cáo, nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ; nên không chấp nhận, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm như đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
[6] Nguyên đơn, bị đơn được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 234/2024/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ các Điều 129, 158, 166, 500, 501, 502, 503 Bộ luật Dân sự; các Điều 100, 166, 167, 170 và 203 Luật Đất đai năm 2013; các Điều 147, 148, 157, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Thị Đ về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” đối với ông Đặng Văn N, bà Bùi Thị K.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Đặng Văn N về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất” với bà Huỳnh Thị Đ.
- Ông Đặng Văn N và bà Bùi Thị K có trách nhiệm trả lại cho bà Huỳnh Thị Đ phần đất diện tích 32,6 m², thuộc thửa đất số 55, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có tứ cận:
- - Hướng Bắc giáp thửa đất số 54, chiều dài 8,19 m;
- - Hướng Nam giáp thửa đất số 69, chiều dài 9,02 m;
- - Hướng Đông giáp thửa đất số 55, chiều dài 3,79 m;
- - Hướng Tây giáp mương, chiều dài 3,82 m.
(Có Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo).
- Ông Đặng Văn N và bà Bùi Thị K được quyền sử dụng phần đất có diện tích 7,02 m², thuộc thửa đất số 55, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; có tứ cận:
- - Hướng Bắc giáp thửa đất số 55, chiều dài: 3,78 m + 10,71m;
- - Hướng Nam giáp thửa đất số 69, chiều dài: 3,85m + 8,00 m + 2,71 m;
- - Hướng Đông giáp đường nhựa, chiều dài 0,46 m;
- - Hướng Tây giáp thửa đất số 55, chiều dài 0,28 m.
(Có Sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo).
- Ông Đặng Văn N và bà Bùi Thị K có nghĩa vụ thanh toán cho bà Huỳnh Thị Đ tiền giá trị quyền sử dụng đất diện tích 7,02 m² tương đương là 27.378.000 đồng (hai mươi bảy triệu ba trăm bảy mươi tám ngàn đồng).
- Các đương sự được quyền liên hệ Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện thủ tục điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH01689, do Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thị xã T) cấp ngày 26-11-2014 cho bà Huỳnh Thị Đ đứng tên; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H00123, do Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thị xã T) cấp ngày 11-9-2006 cho ông Đặng Văn N và bà Bùi Thị K đứng tên; cho phù hợp với quyết định của Bản án.
- Chi phí tố tụng: Ông Đặng Văn N và bà Bùi Thị K có nghĩa vụ trả lại cho bà Huỳnh Thị Đ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản là 8.409.000 đồng (tám triệu bốn trăm lẻ chín ngàn đồng).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí:
- 9.1. Bà Huỳnh Thị Đ, ông Đặng Văn N và bà Bùi Thị K được miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.
- 9.2. Hoàn trả cho bà Huỳnh Thị Đ tiền tạm ứng án phí đã nộp 750.000 (bảy trăm năm mươi ngàn) đồng tại Biên lai thu số 0015040, ngày 20-11-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- 9.3. Hoàn trả cho ông Đặng Văn N tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.179.000 (ba triệu một trăm bảy mươi chín ngàn) đồng tại Biên lai thu số 0000326, ngày 17-9-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Tòng |
Bản án số 146/2025/DS-PT ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất; tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
- Số bản án: 146/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất; tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà Huỳnh Thị Đ và ông Đặng Văn N
