TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 146/2024/HS-ST
Ngày: 13- 12 -2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH - TỈNH BÌNH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Quốc Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Tạ Văn Việt
+ Bà Nguyễn Thị Hạnh
-Thư ký phiên tòa: Bà Minh Thị Thu Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Phước - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình (Số C đường N, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bình Thuận) xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 127/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2024/QĐXXST-HS ngày 25/11/2024 đối với bị cáo:
Trần Văn S (Tên gọi khác: Rớt); Sinh năm 1994
Nơi sinh: Tỉnh Bình Thuận
Đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1957
Trú tại: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận
Vợ con: Chưa có
Tiền án: Không
Tiền sự: Ngày 24/3/2020 bị Công an xã H xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với số tiền 1.500.000 đồng. Trần Văn S chưa đóng phạt.
Tạm giữ: Ngày 15/8/2024
Tạm giam: Ngày 18/8/2024
(Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ công an huyện B, tỉnh Bình Thuận
- Người làm chứng: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1957 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Bình Thuận.
(Tham gia tại điểm cầu trung tâm)
1. Công chức Tòa án: Ông Đa Văn T2
2. Kiểm sát viên: Ông Lư Ngọc Q
3. Công an huyện B: Ông Ngũ Quốc H, ông Lý Thành C.
(Tham gia tại điểm cầu thành phần)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 23 giờ 00 ngày 17/11/2019, gia đình bà Đặng Thị Ngọc L, sinh năm 1966, trú tại khu phố X, thị trấn C, huyện B đóng cửa đi ngủ. Đến khoảng 03 giờ 00 ngày 18/11/2019 thì phát hiện bị kẻ gian đột nhập vào nhà lấy trộm 01 xe mô tô loại Sirius biển kiểm soát 86B2-225.78, số máy 1FC5-0001731, số khung FC50EY001723 (do Nguyễn Thị Nhã T3, sinh năm 1988 đứng tên sở hữu); 4.000.000 đồng tiền mặt và 01 điện thoại di động của bà L. Sau khi phát hiện bị mất trộm thì bà L, T3 đã trình báo cho Cơ quan CSĐT Công an huyện B.
Đến ngày 27/11/2019, Trần Văn S, sinh năm 1994, trú tại thôn H, xã H, huyện B điều khiển xe mô tô có gắn biển kiểm soát 86C1-030.97 mà S mua của D đến nhà của Lâm Hồng T4, sinh năm 1993, trú tại khu phố L, thị trấn L, huyện B để chơi thì bị Công an thị trấn L, huyện B tiến hành kiểm tra hành chính nhà Lâm Hồng T4 và tạm giữ xe mô tô của S do xe không có giấy tờ. Trên đường mời S về làm việc, S bỏ trốn và đi khỏi địa phương.
Sau khi tạm giữ xe mô tô có gắn biển kiểm soát 86C1-030.97 thì Công an thị trấn L đã chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để giải quyết theo thẩm quyền. Qua tra cứu, Cơ quan điều tra xác định xe mô tô trên đứng tên chủ sở hữu là Nguyễn Thị Nhã T3 bị mất trộm ngày 19/11/2019
Đối với biển số 86C1-030.97 là của ông Huỳnh Văn H1, sinh năm 1976, trú tại Tổ A, thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Qua làm việc với ông Huỳnh Văn H1 xác định trong quá trình sử dụng xe mô tô của mình thì vào khoảng tháng 10/2018 khi đang lưu thông trên đường tại khu vực xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận thì biển số xe 86C1-030.97 bị rơi rớt, không rõ là bị rơi ở đâu, mặt khác thấy xe mô tô của mình đã cũ nên ông H1 không trình báo với Cơ quan Công an.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 42/2020/HĐĐG-TTHS ngày 24/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện B kết luận:
Giá trị 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Sirius, số khung FC50EY001723, số máy 1FC-001731, màu trắng xám, mua mới vào năm 2013 bị mất trộm vào ngày 18/11/2019 tại TT. Chợ Lầu là 7.520.000 đồng (Bảy triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng)
Cơ quan điều tra đã truy tìm được Trần Văn S để làm việc. Đến ngày 15/8/2024, Cơ quan điều tra đã truy tìm được Trần Văn S khai: Vào khoảng gần cuối tháng 11/2019, Huỳnh D, sinh năm 1991, trú tại thôn B, xã P, huyện B gọi điện thoại cho Trần Văn S (tên thường gọi: Rớt) nói “ở dưới H có ai mua xe hay không”, khi nghe D nói vậy thì S hỏi “xe gì” thì D nói “xe mới đá xong (tức là xe mới ăn trộm xong)”, S hỏi tiếp “xe còn mới hay không”, D nói lại “xe còn mới, loại sirius phun xăng điện tử” . S hỏi D “để lại giá bao nhiêu” thì D nói “chỗ anh em quen biết để lại 6.000.000 đồng”. Do S không có xe đi lại nên khi nghe D nói vậy thì S muốn mua xe mô tô này, nhưng S chỉ có 2.000.000 đồng nên S hỏi xin bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1957 (là mẹ ruột của S) thêm 4.000.000 đồng để mua xe. Nghe S xin tiền để mua xe, bà T1 hỏi S mua xe gì thì S nói mua xe cũ của người khác. Lúc này, bà T1 sợ S lấy tiền mua ma túy sử dụng mà không phải mua xe nên bà T1 nói với S “kêu thằng bán xe chạy xe xuống đây đi rồi mới đưa tiền”. Nghe bà T1 nói vậy, S gọi điện thoại lại cho D nói chạy xe xuống nhà S thì S sẽ mua. Khoảng hơn 03 tiếng sau, D điều khiển 01 xe mô tô trên đi cùng một người thanh niên (không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể) điều khiển 01 xe mô tô khác chạy đến dừng phía trước nhà của S. Thấy D điều khiển xe mô tô đến nên S nói với bà T1 đưa cho S 4.000.000 đồng. Sau đó, S cầm số tiền 6.000.000 đồng đi ra đưa cho D, đồng thời S kiểm tra xe thì thấy xe mô tô mà D bán cho S là loại xe Sirius, có biển kiểm soát là 86C1-030.97. Khi đưa tiền cho D thì D nói với S “xe mới đá xong, nhưng đã thay biển số xe khác rồi nên yên tâm mà chạy không sao đâu”. S dắt xe vào nhà cất giấu, còn D lên xe của người thanh niên đi cùng chạy đi. Việc mua xe có bà Nguyễn Thị T1 là mẹ ruột của S biết và cho tiền S mua xe nhưng bà T5 không biết xe S mua là xe do người khác trộm cắp đem bán cho S và không biết người bán xe là ai, ở đâu nên Cơ quan điều tra không xử lý bà Nguyễn Thị T1 là phù hợp
Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với Huỳnh D. D khai nhận không biết Trần Văn S là ai và từ trước đến nay chưa bán xe mô tô nào cho người có tên Trần Văn S, ngoài lời khai của S ra, không còn chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không xử lý D là phù hợp.
Cơ quan điều tra đã tách hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của Trần Văn S để xử lý trước. Đối với vụ án trộm cắp tài sản sẽ tiếp tục điều tra.
Về tang vật chứng của vụ án:
Đối với xe mô tô hiệu YAMAHA, số loại Sirius, màu trắng xám, có số khung FC05EY001723, số máy 1FC5-001731, sau khi tiến hành định giá tài sản, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho Nguyễn Thị Nhã T3.
Đối với biển kiểm soát 86C1-030.97, Cơ quan Điều tra đã trả lại cho ông Huỳnh Văn H1.
Về phần dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, chị Nguyễn Thị Nhã T3 không yêu cầu gì nên không xem xét
Tại bản cáo trạng số 125/CT-VKS.HBB ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình đã truy tố bị cáo Trần Văn S về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Trần Văn S phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có ” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và áp dụng: khoản 1 Điều 323; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017)
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn S từ 09 đến 12 tháng tù
Về trách nhiệm dân sự:
Tài sản trộm cắp đã được thu hồi giao trả cho bị hại. Bị hại cũng không yêu cầu gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét
Bị cáo Trần Văn S không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Hội đồng xét xử, xét thấy đề nghị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên có cơ sở để xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình,Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền,trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, chuẩn bị xét xử và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trần Văn S không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trần Văn S đã khai: Vào tháng 11/2019, tại thôn H, xã H, huyện B. Bị cáo Trần Văn S biết rõ xe mô tô hiệu yamaha, số loại Sirius, màu trắng xám, có số khung FC05EY001723, số máy 1FC5-001731 được gắn biển số 86C1-030.97 trị giá 7.520.000 đồng do người khác trộm cắp mà có nhưng vẫn mua để làm phương tiện đi lại thì bị Công an phát hiện. Tài sản đã được thu hồi và giao trả cho chủ sở hữu
Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn S phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 BLHS
Với hành vi nêu trên và hậu quả để lại, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình đã truy tố bị cáo Trần Văn S phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 BLHS là có cơ sở và đúng pháp luật
Hành vi trên đây của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước đối với tài sản do phạm tội mà có gây ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm. Do đó, nghĩ nên tuyên cho bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời để răn đe các đối tượng khác có ý đồ phạm tội tương tự.
[3]Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tuy nhiên, xét sau khi phạm tội, bị cáo Trần Văn S đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tài sản trộm cắp đã được thu hồi giao trả cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử sẽ quan tâm để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[4]Về trách nhiệm dân sự:
Tài sản trộm cắp đã được thu hồi giao trả cho bị hại. Bị hại cũng không yêu cầu gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét
[5] Về án phí:
Bị cáo Trần Văn S phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6]Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của BLTTHS.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn S phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
Áp dụng: Khoản 1 Điều 323; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2017)
Xử phạt: Bị cáo Trần Văn S 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15 tháng 8 năm 2024.
Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án
Bị cáo Trần Văn S phải nộp 200.000 đồng án phí HSST
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | ||
| Lâm Quốc Tuấn |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Quốc Tuấn |
Bản án số 146/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 146/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần VĂn Sơn
