Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 146/2024/HS-ST

Ngày 22-11-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sang

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Đồng, ông Trần Thanh Thuận

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Văn Nam, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Tú, Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 133/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 146/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Ngọc H, sinh ngày 26 tháng 12 năm 1996; tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; trú tại: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Trần Văn P, sinh năm 1970 và bà Tô Thanh C, sinh năm 1977; có vợ là Dương Thị H1, sinh năm 1996 (đã ly hôn) và 01 con; anh, chị em ruột: Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất;

Tiền án: Không;

Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 20 ngày 30/01/2024 của Công an xã T, huyện L đã xử phạt Trần Ngọc H số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 19/3/2024, H đã chấp hành xong.

Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 10 ngày 25/12/2020 của Công an xã H, huyện L đã xử phạt Trần Ngọc H số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Tính đến ngày phạm tội mới, H chưa chấp hành xong, đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.

Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện số 24 ngày 28/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn đã buộc Trần Ngọc H đi cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 21 tháng. Đến ngày 28/9/2022 H đã chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt quả tang; bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 23/8/2024; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L. Bị cáo Trần Ngọc H có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ông Vũ Mạnh L, sinh năm 1968 (có mặt)

Nơi ĐKNKTT: Tổ A phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.

Địa chỉ hiện nay: Tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà La Thị N, sinh năm 1965 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  2. Chị Tô Thanh C, sinh năm 1977 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  3. Anh Hoàng Văn S, sinh năm 1978 (vắng mặt)
    Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 19 giờ 20 phút ngày 22/8/2024, Đ Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang phối hợp với Công an thị trấn C, huyện L và quần chúng nhân dân phát hiện, bắt quả tang Trần Ngọc H đang dùng kéo cắt dây điện tại xưởng đá Huệ Lân của gia đình anh Vũ Mạnh L thuộc tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật thu giữ gồm: 01 (một) kéo chuyên dụng để cắt dây cáp; 02 (hai) đoạn dây cáp điện màu đen đã bị cát đứt hai đầu và 01 (một) xe mô tô gắn biển kiểm soát 98N1-9011; 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu sơn đen, bàn phím cơ, đã qua sử dụng đều của H. Đồng thời bàn giao đoạn dây điện, màu đen đã bị cắt đứt một đầu nối với bảng điện, còn một đầu nối với máy làm đá chưa bị cắt đứt cho bị hại quản lý.

Quá trình đấu tranh Trần Ngọc H khai nhận khoảng 19 giờ ngày 22/8/2014, H một mình điều khiển xe mô tô Wise, kiểu dáng giống xe Wave, màu sơn đen-đỏ, biển kiểm soát 98N1-9011, từ nhà đến xưởng sản xuất đá Huệ Lân với mục đích là trộm cắp trài sản; khi đang thực hiện hành vi phạm tội thì bị bắt quả tang. Ngoài ra Trần Ngọc H còn khai nhận trước đó đã thực hiện 03 lần trộm cắp khác cũng tại xưởng đá H2, cụ thể:

- Ngày 15/8/2024, khoảng 23 giờ Trần Ngọc H một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wise, kiểu dáng giống xe Wave, màu sơn đen-đỏ, biển kiểm soát: 98N1-9011, từ nhà đến xưởng sản xuất đá H2. H để xe mô tô ở rìa đường rồi đi bộ đến khu vực trạm biến áp bên ngoài, sát tường của xưởng đá rồi trèo qua trạm biến áp, tường của xưởng đá để vào bên trong. Sau đó H dùng kéo chuyên dụng để cắt dây cáp, đi tìm cắt những đoạn dây điện được đấu nối từ bảng điện đến máy làm đá. H cắt được 03 (ba) đoạn dây diện, có vỏ bọc màu đen, bên trong có bốn lõi đồng. Sau khi trộm được tài sản, H chở dây điện đến bãi rác gần cầu N, thị trấn C, huyện L để đốt phần vỏ ngoài, lấy lõi đồng bên trong, rồi chở đến nhà bà La Thị N, sinh năm 1965, trú tại thôn T, xã N, huyện L bán với giá 150.000 đồng/kg, được số tiền khoảng hơn 500.000 đồng, H đã chi tiêu cá nhân hết.

- Ngày 18/8/2024, khoảng 23 giờ với cách thức tương tự như lần trước. H cắt được 02 (hai) đoạn dây điện, có đặc điểm tương tự như nêu trên; Chở đến bãi rác, đốt phần vỏ dây điện để lấy lõi đồng rồi chở đến bán cho bà N với giá 150.000 đồng/kg, được số tiền khoảng 450.000 đồng, H đã chi tiêu cá nhân hết.

- Ngày 20/8/2024, khoảng hơn 23 giờ với cách thức tương tự như lần trước. H cắt được 02 (hai) đoạn dây điện, có đặc điểm tương tự như nêu trên; chở đến bãi rác, đốt phần vỏ dây điện để lấy lõi đồng rồi chở đến bán cho bà N với giá 150.000 đồng/kg, được số tiền khoảng 450.000 đồng, H đã chi tiêu cá nhân hết.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành xác định đặc điểm, nguồn gốc, chủng loại, thông số vật chứng đối với 03 (ba) đoạn dây điện thu giữ được khi bắt quả tang nêu trên, kết quả xác định gồm: 02 (hai) đoạn dây điện, có vỏ bọc bằng nhựa, màu đen, bên trong có lõi đồng, do C1 sản xuất, loại dây 4x40, chiều dài 7,6 mét và loại dây 4x35, chiều dài 4,33 mét. Còn lại 01 (một) đoạn dây điện, cùng chủng loại, loại dây 4x35, chiều dài 8 mét, H đã cắt được một đầu nối với bảng điện, khi đang chuẩn bị cắt tiếp đầu dây còn lại thì bị phát hiện.

Tiến hành kiểm tra nội dung bên trong điện thoại di động đã thu giữ của Trần Ngọc H, kết quả không phát hiện nội dung liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho Trần Ngọc H xác định hiện trường nơi xảy ra sự việc, trong đó xác định vị trí nơi H để xe mô tô; vị trí trạm biến áp nơi H trèo qua để vào trong xưởng đá; vị trí H cắt trộm các đoạn dây điện trong các ngày 15, 18, 20, 22/8/2024; vị trí H đốt các đoạn dây điện trộm cắp được để lấy lõi đồng và vị trí nhà bà N nơi H bán lõi đồng, tiến hành lập biên bản, bản ảnh, vẽ sơ đồ hiện trường. Cho người bị hại anh Vũ Mạnh L xác định vị trí nơi bị mất trộm các đoạn dây điện trong xưởng đá H2.

Trên cơ sở kết quả xác định hiện trường của anh Vũ Mạnh L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành cho Trần Ngọc H quan sát bản ảnh hiện trường các vị trí mà anh L xác định bị mất trộm dây điện. Kết quả H xác định những vị trí mà anh L xác định bị cắt mất trộm dây điện đều trùng khớp với các vị trí mà H đã cắt trộm dây điện ở xưởng đá H2.

Căn cứ lời khai của Trần Ngọc H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của bà La Thị N và chỗ ở của Trần Ngọc H, kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến sự việc; tiến hành cho H thực nghiệm điều tra, mô tả lại diễn biến thực hiện hành vi trộm cắp số dây điện, có đặc điểm nêu trên.

Kết luận định giá tài sản số 108 ngày 07/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L xác định:

  • 03 (ba) đoạn dây điện bị trộm cắp ngày 15/8/2024 bao gồm: 02 (hai) đoạn dây điện, có vỏ bọc bằng nhựa, màu đen, bên trong có 04 (bốn) lõi làm bằng các sợi đồng, do hãng C1 sản xuất, loại dây 4x75, dài 7 mét và 8 mét, có giá trị 1.050.000 đồng và 1.200.000 đồng; 01 (một) đoạn dây điện, có đặc điểm nêu trên, loại dây 4x35, dài 2 mét có giá trị 200.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt ngày 15/8/2024 là 2.450.000 đồng.
  • 02 (hai) đoạn dây điện bị trộm cắp ngày 18/8/2024 bao gồm: 02 (hai) đoạn dây điện, có đặc điểm nêu trên, loại dây 4x35, dài 8 mét và 9 mét, có giá trị 800.000 đồng và 900.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt ngày 18/8/2024 là 1.700.000 đồng.
  • 02 (hai) đoạn dây điện bị trộm cắp ngày 20/8/2024 bao gồm: 02 (hai) đoạn dây điện, có đặc điểm nêu trên, loại dây 4x35, mỗi đoạn dài 2 mét, tổng cộng là 4 mét, có giá trị 400.000 đồng. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt ngày 20/8/2024 là 400.000 đồng.

Ngày 26/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định trưng cầu định giá tài sản số 2401 đối với 03 (ba) đoạn dây điện, có đặc điểm nêu trên do Trần Ngọc H trộm cắp vào ngày bị bắt quả tang ngày 22/8/2024. Kết quả định giá đối với tài sản bị H trộm cắp vào ngày bị bắt quả tang theo bản Kết luận định giá tài sản số 94 ngày 27/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L xác định: 01 (một) đoạn dây điện, có đặc điểm nêu trên, loại dây 4x40, dài 7,6 mét có giá trị 874.000 đồng; 01 (một) đoạn dây điện, có đặc điểm nêu trên, loại dây 4x35, dài 4,33 mét có giá trị 433.000 đồng; 01 (một) đoạn dây điện, có đặc điểm nêu trên, loại dây 4x35, dài 8 mét có giá trị 800.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt ngày 22/8/2024 là 2.107.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp ngày 22/8/2024 nên không yêu cầu bồi thường, nhưng yêu cầu bị cáo bồi thường tiền công thuê thợ lắp đặt, đấu nối những đoạn dây điện này, tương ứng 500.000 đồng. Đối với 07 (bảy) đoạn dây bị trộm cắp vào các ngày 15, 18, 20/8/2024 anh L yêu cầu bị cáo mua mới với cùng đặc điểm, kích thước để hoàn trả cho anh L. Đến nay bị cáo chưa bồi thường gì cho anh L.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như cáo trạng truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình đã thực hiện là sai, vi phạm pháp luật và hứa cải tạo tốt, sau khi chấp hành xong hình phạt tù không tái phạm. Đồng ý bồi thường thiệt hại về tài sản cho ông Vũ Mạnh L với tổng số tiền là 14.500.000 đồng theo như ông L yêu cầu.

Bị hại là ông Vũ Mạnh L yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 14.500.000 đồng bao gồm: số tiền công lắp đặt dây điện bị trộm cắp ngày 22/8/2024 là 500.000đ, giá trị những đoạn dây điện bị trộm cắp trong các ngày 15, 18, 20/8/2024 là 14.000.000 đồng. Đề nghị HĐXX áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.

Bản cáo trạng số 146/CT-VKS-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Ngọc H từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận, buộc bị cáo Trần Ngọc H bồi thường cho ông Vũ Mạnh L tổng số tiền là 14.500.000 đồng.

Ngoài ra còn đề nghị xem xét về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà La Thị N; bà Tô Thanh C; anh Hoàng Văn S đã được Tòa án thông báo, tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt mà không có lý do. Xét thấy việc vắng mặt của những người trên không ảnh hưởng tới quá trình xét xử vụ án. Vì vậy, HĐXX xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo Trần Ngọc H tại phiên tòa đã thừa nhận bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể: Trong các ngày 15, 18, 20, 22/8/2024, tại xưởng đá H2; địa chỉ: tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L. Trần Ngọc H đã có hành vi trộm cắp tài sản là các đoạn dây điện, có vỏ bọc bằng nhựa, màu đen, bên trong có 04 (bốn) lõi làm bằng các sợi đồng, nhãn hiệu C1 thuộc quyền sở hữu của ông Vũ Mạnh L. Tổng giá trị tài sản Trần Ngọc H đã chiếm đoạt là 6.657.000 đồng (Sáu triệu, sáu trăm năm mươi bẩy nghìn đồng).

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cũng như vật chứng đã thu hồi; phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Lời khai của bị cáo cũng hoàn toàn phù hợp với thời gian và địa điểm xảy ra tội phạm. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ cơ sở cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4]. Nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu; đã hai lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngoài ra bị cáo còn bị Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào sở cai nghiện bắt buộc.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội hai lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đánh giá về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Ngọc H, HĐXX xét thấy: hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật nhà nước ta bảo vệ, làm mất trật tự an ninh, xã hội tại địa phương. Do đó cần xử lý nghiêm, áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện, cần thiết phải bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho xã hội. Khi lượng hình, HĐXX có xem xét tính chất, mức độ của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên mức hình phạt phù hợp với bị cáo.

[5]. Hiện nay, bị cáo đang bị tạm giam, HĐXX thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày là phù hợp với Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội vì mục đích tư lợi, đáng lẽ phải áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo khoản 5 điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015. Tuy nhiên bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản, thu nhập nên HĐXX miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại ông Vũ Mạnh L yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 14.500. 000 đồng (bao gồm: số tiền công lắp đặt dây điện bị trộm cắp ngày 22/8/2024 là 500. 000 đồng; giá trị những đoạn dây điện bị trộm cắp trong các ngày 15, 18, 20/8/2024 là 14.000.000 đồng) thì bị cáo đồng ý. Vì vậy cần công nhận sự thỏa thuận, buộc bị cáo Trần Ngọc H phải bồi thường cho ông Vũ Mạnh L tổng số tiền là 14.500. 000 đồng.

[8]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wise, kiểu dáng giống xe Wave, màu sơn đen-đỏ, biển kiểm soát: 98N1-9011 của bà Tô Thanh C; 02 (hai) đoạn dây cáp điện, màu đen, đã bị cắt đứt hai đầu và 01 (một) đoạn dây điện, màu đen, đã bị cắt đứt một đầu của anh Vũ Mạnh L. Ngày 15/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định.

Đối với 01 (một) kéo chuyên dụng để cắt dây cáp là công cụ, phương tiện Trần Ngọc H sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu sơn đen, bàn phím cơ, đã qua sử dụng của Trần Ngọc H không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo. Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[9]. Đối với việc bị cáo khai bán lõi đồng dây điện cho bà La Thị N. Nhưng bà N không thừa nhận, tiến hành khám xét nơi ở của bà N không thu giữ được vật chứng là số lõi dây điện làm bằng đồng. Tiến hành cho bà N đối chất với H nhưng hai bên vẫn giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của H thì không còn chứng cứ nào khác xác định bà N đã thu mua và biết số tài sản này do phạm tội mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L không đặt ra xem xét, xử lý đối với bà La Thị N là có căn cứ.

[10]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[11]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung; Các Điều 106, 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 3, 13, 357, 468, 579, 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 21, 23, 26 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án;

Xử phạt bị cáo Trần Ngọc H 01 (một) năm tù về tội "Trộm cắp tài sản".

Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 23/8/2024. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

[2]. Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận; buộc bị cáo Trần Ngọc H phải bồi thường cho ông Vũ Mạnh L số tiền 14.500. 000 đồng (Mười bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3]. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) kéo chuyên dụng để cắt dây cáp;

Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu sơn đen, bàn phím cơ, đã qua sử dụng. Nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Đặc điểm vật chứng của vụ án theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn).

[4]. Về án phí: Bị cáo phải chịu số tiền 200.0000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 725. 000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.iêQuyeets

[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Cơ quan THAHS và Cơ quan điều tra - Công an huyện Lục Ngạn;
  • - THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Nguyễn Văn Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 146/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 146/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ádfC
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger