|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 146/2024/HSST Ngày: 15/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Bích Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thiện
Bà Phạm Thị Yến
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Trang- Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 122/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024; thông báo thay đổi lịch xét xử số 306/TB-TA ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Vũ Đại D, sinh ngày 07 tháng 8 năm 1985 tại Hải Phòng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố H, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Ngõ A K, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; vợ là Ngô Thị T (đã ly hôn) và có 03 con; tiền sự: Không; tiền án: Tại Bản án số 38/2018/HSST ngày 30/11/2018 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa được xóa án tích); nhân thân: Tại Bản án số 42/2007/HSST ngày 16/5/2007 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Chống người thi hành công vụ” (đã được xóa án tích). Ngoài ra, tại Bản án số 65/2024/HSST ngày 28/03/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 15 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo kháng cáo, ngày 15/7/2024 Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xử sửa bản án Bản án số 65/2024/HSST ngày 28/03/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 13 năm 06 tháng tù theo bản án số 553/2024/HS-PT ngày 15/7/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/12/2022; có mặt.
- Bị hại:
- Chị Nguyễn Thị Hồng T1 và anh Đoàn Huy P; địa chỉ: Số B K, Đ, H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
- Người có quyền lợi. nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Nguyễn Thị L; địa chỉ: Ngõ E đường H, Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn H1; địa chỉ: Số F đường L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Quyết T2; nơi ĐKHKTT: Số B đường L, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số H K, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị H2 và ông Trần Đại V; nơi cư trú: Tổ B cụm D đường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghĩ xét xử vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị D1; nơi cư trú: Số H đường Đ, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng:
- + Bà Nguyễn Thị H; có mặt.
- + Ông Ngô Văn V1; vắng mặt.
- + Chị Đỗ Thị T3; vắng mặt
- + Chị Lê Thị D2; vắng mặt.
- + Chị Phạm Thị L1; vắng mặt.
- + Chị Trần Thị Thanh T4; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Đại D kinh doanh môi giới bất động sản trên địa bàn thành phố Hải Phòng, là Giám đốc Công ty Cổ phần Đ1. Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2021 đến tháng 04/2022, Vũ Đại D đã thực hiện các hành vi phạm tội như sau:
Vụ án thứ nhất:
Năm 1995, bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1950; nơi cư trú: Ngõ E đường H, phường Đ, quận H được Ủy ban nhân dân huyện A cấp quyền sử dụng đối với 962 m² đất trồng cây hàng năm tại xã Đ, huyện A (nay là H, phường Đ, quận H) gồm các thửa đất số 109 có diện tích 110m², thửa đất số 184 có diện tích 791m² và thửa đất số 287 có diện tích 61m²; thuộc tờ bản đồ số 11 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCN) số D0496374, vào sổ cấp GCN số 02294 mang tên bà Nguyễn Thị L cấp ngày 18/5/1995. Sau đó, Ủy ban nhân dân quận H đã thu hồi 901m² tại thửa đất số 109, 184 tờ bản đồ số 11 để thực hiện dự án đô thị xây dựng tuyến đường trục chính có mặt cắt ngang 100m L - Hồ Đ. Đối với diện tích đất 61m² thuộc thửa đất số 287, tờ bản đồ số 11, bà L bán cho ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1974; ĐKHKTT: Số F L, phường M, quận N với giá 20.000.000 đồng. Việc mua bán có giấy viết tay, không công chứng, chứng thực. Khoảng cuối năm 2021, bà L và ông H1 thỏa thuận nếu bà L làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đối với diện tích đất trên sang đất thổ cư thì ông H1 sẽ trả cho bà L số tiền 200.000.000 đồng. Đến khoảng tháng 11/2021, bà L nhờ D làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đối với diện tích đất trên sang đất thổ cư nên D có chụp lại ảnh GCN số D0496374. Sau đó, D nói với chị Đỗ Thị T3; sinh năm 1984; nơi cư trú: Số A P, P, phường Đ, quận H) là bạn bè xã hội của D về việc D có thửa đất rẻ, đẹp có thể xây nhà được, có giấy tờ đầy đủ, cần tìm người mua. Chị T3 giới thiệu cho chị Lê Thị D2, sinh năm 1979; nơi cư trú: Số B đường Đ, quận N, Hải Phòng) mua diện tích đất trên. D dẫn chị T3, chị D2 đi xem đất, nếu chị D2 mua sẽ làm hợp đồng mua bán giữa chị D2 với chủ cũ. Sau khi thoả thuận, D và chị D2 thống nhất giao dịch mua bán diện tích đất trên với giá 320.000.000 đồng. Ngày 26/11/2021, tại nhà chị Đỗ Thị T3, anh Bùi Văn B đến và đưa cho D GCN số D0496374 mang tên bà Nguyễn Thị L với mục đích nhờ D chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất thổ cư, sau đó B đi về. Sau khi nhận GCN từ B, D đưa cho chị T3 để đảm bảo việc bán đất cho chị D2. Chị D2 đặt cọc cho D số tiền là 200.000.000 đồng (gồm 100.000.000 đồng chị D2 chuyển khoản cho D và 100.000.000 đồng là tiền mặt chị D2 vay của T3). D viết hợp đồng đặt cọc ghi ngày 27/11/2021. Sau đó, chị D2 thanh toán cho D số tiền còn lại là 120.000.000 đồng, D hẹn làm vi bằng việc mua bán đất giữa chị D2 và chủ đất cũ, chị D2 giữ GCN. Sau khi chuyển toàn bộ tiền mua đất cho D, chị D2 và chị T3 có xuống thăm thửa đất thì gặp bà L, bà L nói đã bán diện tích đất trên cho người khác từ lâu, không bán cho D. Chị T3 và D2 liên lạc, hỏi D thì D hứa sẽ làm giấy tờ đầy đủ. Sau nhiều lần yêu cầu nhưng D không thực hiện, thởi điểm này chị D2 cần tiền để chữa bệnh cho con nên không mua đất nữa, yêu cầu D trả lại tiền, D nói sẽ lấy lại đất, khi nào bán cho người khác thì sẽ trả tiền cho chị D2. Chị D2 vẫn giữ bìa đỏ đất để đảm bảo việc D trả lại số tiền 320.000.000 đồng.
Để có tiền trả cho chị D2, khoảng đầu tháng 4/ 2022, D nhờ chị Phạm Thị L1, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số E, đường G, phường T, quận H) môi giới bán giúp diện tích đất trên. Khi nhờ chị L1, D nói là đất của mình, có giấy tờ đầy đủ nên chị L1 đồng ý. Sau một thời gian thì chị Nguyễn Thị Hồng T1 cùng chồng là anh Đoàn Huy P; cùng trú tại: Số B K, phường Đ, quận H, Hải Phòng liên hệ với chị L1 để mua thửa đất nêu trên. Chị L1 đã dẫn vợ chồng chị T1 xem thửa đất. Ngày 06/4/2022, chị L1 dẫn chị T1 đến gặp D tại quán cà phê trên đường Đ và giới thiệu D là chủ đất. D và chị T1 thống nhất mua bán thửa đất với giá 370.000.000 đồng. D thông báo cho chị D2 mang GCN đến quán đến cà phê để chị T1 xem. Sau khi thấy đất có GCN thì vợ chồng chị T1 đặt cọc số tiền 20.000.000 đồng. Cùng ngày, D viết hợp đồng đặt cọc và hẹn khi nào có giấy tờ đầy đủ thì chị T1 thanh toán nốt số tiền 350.000.000 đồng còn lại. Sau khi nhận tiền cọc, D đưa toàn bộ cho chị D2 và chị D2 tiếp tục giữ GCN cho đến khi D trả đủ tiền. Sau khi kí hợp đồng đặt cọc với vợ chồng chị T1, anh P, để tạo sự tin tưởng, D đã lên mạng xã hội Facebook nhờ người không quen biết làm giả tài liệu đóng dấu tròn của UBND phường Đ, quận H, Hải Phòng và chữ ký, dấu chức danh của ông Ngô Văn V1 - Phó Chủ tịch UBND phường Đ 2 gồm: 01 đơn xin xác nhận gửi UBND phường Đ 2 với nội dung: Vũ Đại D là chủ sử dụng thửa đất số 287, tờ bản đồ số 11, diện tích 61m², đã chuyển quyền sử dụng cho vợ chồng chị T1, anh P đề nghị Ủy ban nhân dân phường xác nhận để bên mua tiếp tục làm thủ tục theo quy định (tài liệu 01) và 01 đơn đề nghị gửi UBND phường Đ 2 với nội dung: Bà Nguyễn Thị L đề nghị Ủy ban nhân dân phường xác nhận thời hạn sử dụng diện tích thửa đất số 287, tờ bản đồ số 11 vẫn còn 30 năm theo quy định Luật Đất đai năm 2013 (tài liệu 02).
Đến ngày 12/4/2022, tại nhà D, chị T1 chuyển 350.000.000 đồng tiền mặt cho D. D đưa cho chị T1 01 hợp đồng chuyển nhượng đất không ghi ngày tháng nội dung bên chuyển nhượng là Vũ Đại D và bên nhận chuyển nhượng là Nguyễn Thị Hồng T1 cùng GCN số D0496374 do chị D2 đưa cho D và 02 tài liệu làm giả nêu trên. Dương gia lộc cho chị T1 2.000.000 đồng, trả cho chị L1 20.000.000 đồng tiền môi giới và trả cho chị Duyên số tiền 300.000.000 đồng.
Sau khi chuyển nhượng đất, D hứa quây tôn thửa đất cho vợ chồng chị T1 anh P. Khi tiến hành việc quây tôn thì bà L và anh B ra ngăn cản, không cho làm và thông báo đã bán đất cho người khác, không bán cho D. Vợ chồng chị T1 có hỏi thì D bảo để D giải quyết. Sau đó, để tiếp tục lấy lòng tin của vợ chồng chị T1, Dương tự soạn 01 hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 287 ghi ngày 27/11/2021, bên chuyển nhượng là Bùi Văn B (con trai bà Nguyễn Thị L), bên nhận chuyển nhượng là Vũ Đại D, Dương giả chữ ký của anh B, tự ký vào bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng rồi đưa hợp đồng cho chị T1. Sau này, vợ chồng chị T1 tìm hiểu thì được biết bà L đã bán diện tích đất trên cho người khác nên vợ chồng chị T1 yêu cầu Dương huỷ hợp đồng chuyển nhượng và trả lại tiền, D đồng ý mua lại thửa đất với giá 370.000.000 đồng. Ngày 21/5/2022, D đưa cho vợ chồng chị T1 20.000.000 đồng và viết hợp đồng đặt cọc thể hiện vợ chồng chị T1 bán diện tích đất trên cho D. Khoảng 10 ngày sau, D trả cho vợ chồng chị T1 thêm 30.000.000 đồng. Kể từ đó, D không trả số tiền còn lại cho vợ chồng chị T1, anh P nên chị T1 đã trình báo sự việc đến cơ quan công an và giao nộp: Gồm 01 GCN số D0496374 mang tên Nguyễn Thị L do UBND huyện A cấp ngày 18/5/1995; 01 hợp đồng đặt cọc ghi ngày 06/4/2024 ghi bên A là Vũ Đại D và bên B là Nguyễn Thị Hồng T1; 01 đơn Vũ Đại D xin xác nhận gửi UBND phường Đ; 01 đơn bà Nguyễn Thị L đề nghị gửi UBND phường Đ 2 xác nhận thời hạn sử dụng diện tích thửa đất số 287, tờ bản đồ số 11; 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không ghi ngày tháng năm, bên chuyển nhượng là Vũ Đại D và bên nhận chuyển nhượng là vợ chồng anh P, chị T1; 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/11/2022 nội dung bên chuyển nhượng là Bùi Văn B và bên nhận chuyển nhượng là Vũ Đại D; 01 giấy đặt cọc ghi ngày 21/5/2022, người đặt cọc là Vũ Đại D, bên nhận cọc là anh Đoàn Huy P. Chị Phạm Thị L1 tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 20.000.000 đồng.
Tại bản Kết luận giám định số 115/KL-KTHS (TL) ngày 31/5/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:
- - Chữ ký, chữ viết mang tên Vũ Đại D tại mục “Bên chuyển nhượng QSDĐ” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1; tại mục “Đại diện Bên nhận chuyển nhượng Quyền sử dụng đất” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 và tại mục “Người làm đơn” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A4 so với chữ ký, chữ viết của người mang tên Vũ Đại D là do cùng một người ký và viết ra.
- - Chữ viết từ dòng “Ông (Bà): Bùi Văn B sinh năm 07-10-1986” đến dòng “ngõ rộng 4m, và phía Nam giáp hộ ông T8” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 so với chữ ký, chữ viết của người mang tên Vũ Đại D là do cùng một người ký và viết ra.
- - Chữ ký, chữ viết mang tên Bùi Văn B tại mục “Đại diện Bên chuyển nhượng Quyền sử dụng đất” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 so với chữ ký, chữ viết của người mang tên Bùi Văn B là không phải do cùng một người ký và viết ra.
- - Chữ ký mang tên Nguyễn Thị L tại mục “Người làm đơn” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A5 so với chữ ký của người mang tên Nguyễn Thị L là không phải do cùng một người ký ra.
- - Hình dấu tròn có nội dung “U.B.N.D PHƯỜNG ĐÔNG HẢI 2 Q.HẢI AN T.P HẢI PHÒNG” trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A4, A5 so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh là không phải do cùng một con dấu đóng ra.
- - Hình dấu chức danh có nội dung “KT. CHỦ TỊCH PHÓ CHỦ TỊCH Ngô Văn V1” trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A4, A5 so với hình dấu chức danh có cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh là không phải do cùng một con dấu đóng ra.
- - Chữ ký mang tên Phó Chủ tịch Ngô Văn V1 trên các tài liệu cần giám định ký hiệu A4, A5 so với chữ ký của đồng chí Ngô Văn V1 trên các tài liệu mẫu so sánh không phải do cùng một người ký ra.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Đại D khai nhận: Khoảng cuối năm 2021, D mua diện tích đất 61m², thửa đất số 287, tờ bản đồ số 11 của anh Bùi Văn B với giá 152.000.000 đồng. Tại nhà chị T3, anh B đưa cho D GCN số D0496374 và D đưa cho B số tiền 100.000.000 đồng, số tiền còn lại D chuyển khoản và đưa tiền mặt cho B. Việc mua bán đất, giao tiền giữa D và B không viết giấy tờ gì. Sau đó, D bán diện tích đất trên cho chị D2 với giá 320.000.000 đồng như nội dung đã nêu trên. Đến khi chị T3 và chị D2 trao đổi về việc bà L đã bán thửa đất số 287 cho người khác thì D đã trao đổi lại việc này với B. Lúc này, D mới biết B bán thửa đất cho D mà không có sự đồng ý của bà L. D yêu cầu B ký hợp đồng chuyển nhượng với chị D2 nhưng B không đồng ý. D nhận thức việc mua đất của B là sai, đất không thuộc sở hữu của D, nhưng do đã sử dụng hết số tiền bán đất cho chị D2 vào việc cá nhân nên D nảy sinh ý định làm giả giấy tờ để hợp thức hoá thửa đất số 287 là của D, để dễ bán cho người khác lấy tiền trả cho chị D2. Sau khi thỏa thuận bán đất cho vợ chồng chị T1, anh P, D đã lên mạng nhờ người không quen biết làm giả 01 đơn xác nhận và 01 đơn đề nghị (tài liệu 01, 02) với giá 700.000 đồng/01 tài liệu. D tự soạn nội dung tài liệu và gửi cùng mẫu dấu, mẫu chữ ký qua facebook cho người làm dịch vụ làm giả, người này làm xong gửi xe ôm cho D, D nhận tài liệu và thanh toán tiền cho xe ôm. D không nhớ thông tin của xe ôm, không biết thông tin của người làm giả tài liệu. D đã đập và vất chiếc điện thoại đã sử dụng từ khoảng cuối năm 2022 nên dữ liệu giao dịch qua facebook không còn. Vũ Đại D còn tự lập 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thể hiện anh B chuyển nhượng diện tích đất 61m² cho D ghi ngày 27/11/2021 và tự ký chữ ký của anh B ở hợp đồng đó.
Đến ngày 02/7/2024, D thay đổi lời khai và qua đối chất giữa D với chị Nguyễn Thị Hồng T1, chị Lê Thị D2, chị Đỗ Thị T3 và chị Phạm Thị L1, D khai như sau: D mua thửa đất số 287 của Bùi Văn B với giá 152.000.000 đồng. Sau đó, D và T3 thống nhất bán cho chị D2 với giá 270.000.000 đồng nhưng D không trực tiếp giao dịch với chị D2 mà chỉ nhận của chị T3 152.000.000 đồng để chuyển cho Bắc, số tiền còn lại không biết chị T3 và chị D2 thanh toán như thế nào. D không nhận tiền của chị D2. Sau đó, chị D2 có việc nên muốn nhờ D bán hộ đất, D nhờ L1 môi giới chuyển nhượng đất cho chị T1 với giá 370.000.000. D đã nhận đủ 370.000.000 đồng và gia lộc cho chị T1 2.000.000 đồng, trả hoa hồng cho L1 20.000.000 đồng, số tiền còn lại D khai không rõ chị D2 và chị T3 chia nhau như thế nào. D thừa nhận hành vi làm giả tài liệu của mình là vi phạm pháp luật với mục đích hợp thức hoá thửa đất là của D, làm cho vợ chồng chị T1 tin tưởng mua đất, gây thiệt hại về tài sản cho vợ chồng chị T1, nhưng D không được hưởng bất kỳ số tiền nào trong việc giao dịch đất đai này.
Tại Cơ quan điều tra, anh Bùi Văn B phủ nhận việc bán thửa đất số 287 cho D. B khai tại nhà T3, B chỉ đưa GCN số D0496374 cho D để nhờ D làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất, không có việc B nhận tiền của D để bán đất. Bắc có nhận tiền chuyển khoản 20.000.000 đồng của D nhưng là tiền D cho con B mới sinh. Ngoài ra, B có nhận của D 12.000.000 đồng tiền mặt, đây là tiền D cho bà L khi san lấp phần ruộng của bà L đã bị nhà nước thu hồi, bà L có nói với D khi cho tiền thì đưa cho B (phù hợp với lời khai của bà L).
Vụ án thứ hai:
Khoảng năm 2019 - 2020, bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1970, ĐKHKTT: SỐ D T, phường N, quận L; chỗ ở hiện nay: Số H Đà Nẵng, phường L, quận N mua của ông Trần Gia H3, sinh năm 1970; nơi cư trú: Số A chợ C, phường D, quận L) 01 mảnh đất nông nghiệp diện tích 500 m² thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ số 12 tại H, phường Đ, quận H với giá 300.000.000 đồng. Việc mua bán chỉ có giấy tờ viết tay giữa ông H3 và bà D1. Khoảng tháng 8/2021, bà D1 nhờ D làm trích đo đối với thửa đất trên. Theo yêu cầu của D, bà D1 cung cấp giấy tờ gồm chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu công chứng, bản phô tô giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và số tiền 15.000.000 đồng để D làm trích đo thửa đất mang tên bà D1. Do có quen biết với ông Ngô Văn V1, là Phó Chủ tịch UBND phường Đ (nay là Phó Chủ tịch HĐND phường Đ) nên D nhờ ông V1 làm trích đo thửa đất số 14 mang tên Nguyễn Thị D1, ông V1 yêu cầu phí làm trích đo là 15.000.000 đồng. D đưa tài liệu và tiền cho ông V1, ông V1 làm xong trích đo mang tên bà Nguyễn Thị D1 có chữ ký, dấu chức danh của ông Ngô Văn V1 - Phó Chủ tịch UBND phường Đ và dấu tròn của UBND phường Đ thì đưa lại cho D, D đưa lại cho bà D1. Khoảng tháng 3/2022, bà D1 bán thửa đất trên cho vợ chồng chị Trần Thị Thanh T4, sinh năm 1987; trú tại: Số B Đà Nẵng, phường L, quận N) với giá 700.000.000 đồng. Ngày 14/3/2022, chị T4 đặt cọc cho bà D1 110.000.000 đồng, hai bên làm vi bằng mua bán tại Văn phòng T10. Do chị T4 yêu cầu làm trích đo thửa đất nên bà D1 tiếp tục nhờ Vũ Đại D làm trích đo thửa đất số 14 mang tên chị T4. D liên lạc nhờ ông Ngô Văn V1, ông V1 đồng ý và báo chi phí là 15.000.000 đồng. D thấy hoàn cảnh bà D1 khó khăn, để giảm chi phí nên D đã nảy sinh ý định lên mạng đặt làm giả trích đo thửa đất. D yêu cầu bà D1 cung cấp giấy tờ của chị T4 gồm chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu công chứng và bản gốc trích đo mang tên Nguyễn Thị D1 cho D. Tại nhà D, bà D1 đưa cho D tài liệu và D thông báo phí làm trích đo là 3.500.000 đồng. Bà D1 đồng ý và bồi dưỡng thêm cho D 11.500.000 đồng để D làm nhanh giúp bà D1. Sau đó, D lên mạng xã hội Facebook đặt làm giả trích đo thửa đất số 14 mang tên Trần Thị Thanh T4 với giá là 700.000 đồng. Nhận được trích đo, D đưa cho bà D1 và tiêu huỷ trích đo mang tên Nguyễn Thị D1. D không nói gì nên bà D1 không biết trích đo mang tên Trần Thị Thanh T4 là do D đặt làm giả. Ngày 22/4/2022, tại nhà bà D1, chị T4 chuyển số tiền còn lại là 580.000.000 cho bà D1 (bà Dậu gia L2 10.000.000 đồng cho chị T4) để hoàn tất việc mua bán thửa đất. Bà D1 chuyển trích đo thửa đất số 14 mang tên Trần Thị Thanh T4 cho chị T4. Sau đó, nghi ngờ trích đo là giả và việc mua bán đất có vấn đề nên chị T4 đã làm đơn tố cáo bà D1 và giao nộp 01 trích đo thửa đất (tỷ lệ 1/200) đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ số 12, địa chỉ thửa đất H, phường Đ, quận H tên người sử dụng bà Trần Thị Thanh T4 ngày 21/3/2022 có đóng dấu chữ ký, dấu chức danh mang tên Ngô Văn V1 và dấu tròn đỏ của UBND phường Đ (ký hiệu A).
Tại bản Kết luận giám định số 04/KL-KTHS(TL) ngày 05/01/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Hình dấu tròn có nội dung “U.B.N.D PHƯỜNG ĐÔNG HẢI 2 Q.HẢI AN T.P HẢI PHÒNG”, hình dấu chức danh có nội dung “K.T CHỦ TỊCH PHÓ CHỦ TỊCH Ngô Văn V1”, chữ ký mang tên Phó Chủ tịch Ngô Văn V1 trên tài liệu ký hiệu A so với mẫu so sánh không phải do cùng một con dấu đóng ra, không phải do cùng một người ký ra.
Vụ án thứ ba:
Ngày 01/8/2002, UBND xã Đ (Chủ tịch Trần Văn T5) cấp trích đo mặt bằng sử dụng đất: Thửa đất số 318a, tờ bản đồ số 9, diện tích 983m² cho Hợp tác xã N do ông Trịnh Văn G, sinh năm 1949; trú tại: số B H, tổ dân phố Đ, phường Đ, quận H) làm chủ nhiệm. Năm 2008, thực hiện hợp đồng liên doanh liên kết xây dựng văn phòng kho bãi và dịch vụ tổng hợp giữa Hợp tác xã N với ông Nguyễn Đức T6 và bà Nguyễn Thị H, ông Trịnh Văn G đã chuyển nhượng trái phép quyền sử dụng đối với 983m² đất cho ông Nguyễn Đức T6 và bà Nguyễn Thị H. Ngày 20/8/2011, ông Nguyễn Đức T6 đã ủy quyền lại toàn bộ quyền sử dụng đối với diện tích đất trên cho bà H. Bà H đã sử dụng diện tích đất trên từ năm 2008 và đóng tiền thuế đất từ đó đến nay. Năm 2021, bà H đã họp gia đình và cho con trai là Vũ Đại D toàn bộ diện tích đất trên. Tài liệu điều tra xác định diện tích đất trên có địa chỉ tại ngõ A K, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng.
Trong khoảng thời gian từ tháng 08/2021 đến tháng 02/2022, chị Trần Thị H4, sinh năm 1982; ĐKHKTT: Số B cụm D Đ, quận N) và chồng là anh Trần Đại V, sinh năm 1982) đã mua của D 04 lô đất thuộc thửa đất số 318a, tờ bản đồ số 9; tại địa chỉ ngõ A K, phường Đ, quận H. Cụ thể như sau:
Lô đất thứ 1: Có diện tích 125m², Vũ Đại D bán cho vợ chồng chị H4, anh V với giá 900.000.000 đồng và lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30/8/2021 giữa Vũ Đại D và anh Trần Đại V có chữ ký, dấu chức danh của ông Ngô Văn V1 và dấu tròn đỏ của UBND phường Đ (ký hiệu A7).
Lô đất thứ 2: Có diện tích 68,8m², Vũ Đại D bán cho vợ chồng chị H4, anh V với giá thực tế là 450.000.000 đồng (giá ghi trên hợp đồng là 481.000.000 đồng) và lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 03/9/2021 giữa Vũ Đại D và chị Trần Thị H4 có chữ ký, dấu chức danh của ông Ngô Văn V1 và dấu tròn đỏ của UBND phường Đ (ký hiệu A11).
Đối với 02 lô đất này, D đã lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhờ ông Ngô Văn V1 – Phó Chủ tịch UBND phường Đ ký xác nhận vào hợp đồng với nội dung “UBND phường Đ xác nhận ông Vũ Đại D ĐKHK thường trú tại địa phương” rồi ký, đóng dấu chức danh, dấu tròn của Ủy ban nhân dân phường Đ. Sau đó, Dương T7 viết thêm vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30/8/2021 nội dung: “Xác nhận ông Vũ Đại D có nhượng lại cho ông Trần Đại V 125m² đất trích đo HTX tại thửa 318a, tờ bản đồ số 9 là đúng” và viết thêm vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 03/9/2021 nội dung: “Xác nhận ông Vũ Đại D có nhượng lại cho bà Trần Thị H4 68,8m² đất trích đo HTX tại thửa 318a, tờ bản đồ số 9 là đúng” rồi chuyển lại cho chị H4, anh V. Vũ Đại D đã nhận của chị H4, anh V 1.350.000.000 đồng tiền mua bán hai lô đất trên.
Lô đất thứ 3: Có diện tích 37,5m², Vũ Đại D bán cho vợ chồng chị H4, anh V với giá thực tế là 200.000.000 đồng (giá ghi trên hợp đồng là 243.750.000 đồng) có lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 01/11/2021 giữa Vũ Đại D và chị Trần Thị H4 có chữ ký, dấu chức danh của ông Nguyễn Văn T8 và dấu tròn đỏ của UBND phường Đ (ký hiệu Al) và trích đo thửa đất (tỷ lệ 1/200) mang tên bà Trần Thị H4 ngày 01/11/2021 có chữ ký, dấu chức danh của ông Nguyễn Văn T8 và dấu tròn đỏ của UBND phường Đ (ký hiệu A2).
Lô đất thứ 4: Có diện tích 70m², Vũ Đại D bán cho vợ chồng chị H4, anh V với giá là 400.000.000 đồng có lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 23/02/2022 giữa Vũ Đại D và chị Trần Thị H4 có chữ ký, dấu chức danh của ông Ngô Văn V1 và dấu tròn đỏ của UBND phường Đ (ký hiệu A9), trích đo thửa đất (tỷ lệ 1/200) mang tên bà Trần Thị H4 và ông Trần Đại V ngày 23/02/2023 có chữ ký, dấu chức danh của ông Ngô Văn V1 và dấu tròn đỏ của UBND phường Đ (ký hiệu A10) và 01 đơn của ông Trần Đại V gửi UBND phường Đ đề nghị xác nhận nguồn gốc đất của Hợp tác xã N (ký hiệu A13).
Đối với 02 lô đất này, D đã lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất rồi tự viết nội dung xác nhận việc chuyển nhượng là đúng, sau đó D lên mạng Facebook nhờ người không quen biết làm giả chữ ký, hình dấu tròn của UBND phường Đ, hình dấu chức danh của ông Ngô Văn V1 và ông Nguyễn Văn T8 in lên hợp đồng với giá 700.000 đồng/tài liệu. Ngoài ra, với cách thức tương tự, D cũng đã nhờ người làm giả trích đo thửa đất tỷ lệ (1/200) đối với 02 lô đất trên với giá 700.000 đồng/tài liệu. Sau đó, D đưa những tài liệu này cho vợ chồng chị H4, anh V và nhận 600.000.000 đồng tiền mua bán hai lô đất trên.
Ngoài ra, D còn nhờ người không quen biết trên Facebook làm giả một số tài liệu để tạo sự tin tưởng cho vợ chồng chị H4, anh V trong quá trình giao dịch mua bán đất, gồm: 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ghi ngày 30/01/2022 giữa bên chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964; ĐKHKTT: Tổ dân phố H, phường Đ, quận H) là mẹ đẻ của D, bên nhận chuyển nhượng là Vũ Đại D đối với diện tích đất 2978m² tại thửa đất số 318a, 357, 321, 322, tờ bản đồ số 9 tại ngõ A K, phường Đ, quận H (ký hiệu A12) và 01 biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ghi ngày 13/7/2021 đều có chữ ký, dấu chức danh của ông Ngô Văn V1 và dấu tròn của UBND phường Đ với giá 700.000 đồng/tài liệu (ký hiệu A8). Riêng đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H và D ngày 30/01/2022, tuy bà H đã cho D đất nhưng vào thời điểm bán đất cho vợ chồng chị H4, giữa hai mẹ con đang có mâu thuẫn nên D đã tự lập hợp đồng và giả mạo chữ ký của bà H tự ký vào mục bên chuyển nhượng, phù hợp với Kết luận giám định số 160/KL-KTHS (TL) ngày 18/10/2022 của Phòng K Công an thành phố H.
Tại bản Kết luận giám định số 101/KL-KTHS (TL) ngày 11/7/2022 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Chữ ký, dấu chức danh mang tên Phó Chủ tịch Nguyễn Văn T8 và hình dấu tròn “U.B.N.D PHƯỜNG ĐÔNG HẢI 2 Q.HẢI AN T.P HẢI PHÒNG” trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng và trích đo lô đất 37,5m² (ký hiệu A1, A2) so với mẫu chữ ký, mẫu dấu chức danh của ông Nguyễn Văn T8, mẫu dấu tròn của Ủy ban nhân dân phường Đ không phải là do cùng 01 người ký ra, không phải cùng một con dấu đóng ra.
Tại bản Kết luận giám định số 130/KL-KTHS (TL) ngày 30/8/2022 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:
- - Chữ ký, dấu chức danh mang tên Phó Chủ tịch Ngô Văn V1 và hình dấu tròn “U.B.N.D PHƯỜNG ĐÔNG HẢI 2 Q.HẢI AN T.P HẢI PHÒNG” trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng lô đất 68,8m² (ký hiệu A11) so với mẫu chữ ký, mẫu dấu chức danh của ông Ngô Văn V1, mẫu dấu tròn của Ủy ban nhân dân phường Đ là do cùng 01 người ký ra, cùng một con dấu đóng ra.
- - Chữ ký, dấu chức danh mang tên Phó Chủ tịch Ngô Văn V1 và hình dấu tròn “U.B.N.D PHƯỜNG ĐÔNG HẢI 2 Q.HẢI AN T.P HẢI PHÒNG” trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H và Vũ Đại D (ký hiệu A12) và đơn xin xác nhận nguồn gốc đất của anh Trần Đại V (ký hiệu A13) so với mẫu chữ ký, mẫu dấu chức danh của ông Ngô Văn V1, mẫu dấu tròn của Ủy ban nhân dân phường Đ không phải là do cùng 01 người ký ra, không phải cùng một con dấu đóng ra.
Tại bản Kết luận giám định số 296/KL-KTHS ngày 18/12/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận:
- - Chữ ký, dấu chức danh mang tên Phó Chủ tịch Ngô Văn V1 và hình dấu tròn “U.B.N.D PHƯỜNG ĐÔNG HẢI 2 Q.HẢI AN T.P HẢI PHÒNG” trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng lô đất 125m² (ký hiệu A7) so với mẫu chữ ký, mẫu dấu chức danh của ông Ngô Văn V1, mẫu dấu tròn của Ủy ban nhân dân phường Đ là do cùng 01 người ký ra, cùng một con dấu đóng ra.
- - Chữ ký, dấu chức danh mang tên Phó Chủ tịch Ngô Văn V1 và hình dấu tròn “U.B.N.D PHƯỜNG ĐÔNG HẢI 2 Q.HẢI AN T.P HẢI PHÒNG” trên biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ghi ngày 13/7/2021 (ký hiệu A8), hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và trích đo lô đất 70m² (ký hiệu A9, A10) so với mẫu chữ ký, mẫu dấu chức danh của ông Ngô Văn V1, mẫu dấu tròn của Ủy ban nhân dân phường Đ không phải là do cùng 01 người ký ra, không phải cùng một con dấu đóng ra.
Tài liệu điều tra xác định diện tích đất D chuyển nhượng cho chị H4, anh V là đất chuyên dùng, không được chuyển nhượng đất theo quy định của pháp luật đất đai, khi Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường về đất. Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H không có cơ sở để định giá tài sản và từ chối thực hiện việc định giá tài sản.
Tại Cơ quan điều tra, D khai nhận: Ngoài ra, trong tháng 8/2021, D còn bán 03 lô đất thuộc thửa đất 318a, tờ bản đồ số 9 địa chỉ ngõ A K, phường Đ, quận H, Hải Phòng cho anh Nguyễn Quyết T2, sinh năm 1980; ĐKHKTT: Số B L, G, Ngô Q), bà Vũ Thị L3 (mẹ đẻ anh T2) và anh Nguyễn Văn H5, chị Nguyễn Thị Hồng L4, anh Nguyễn Phúc T9 (họ hàng của anh T2) với tổng số tiền là 1.862.000.000 đồng. Khi giao dịch mua bán 03 lô đất trên, Vũ Đại D đều lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (bên chuyển nhượng là Vũ Đại D - Giám đốc Công ty Cổ phần Đ1; bên nhận chuyển nhượng là những người có tên trên) và trích đo thửa đất đối với mỗi lô. Sau đó, D nhờ ông Ngô Văn V1 - Phó Chủ tịch UBND phường Đ xác nhận, ký vào các hợp đồng và trích đo thửa đất trên. Ông V1 đã ký, đóng dấu vào 03 tờ trích đo đất; viết xác nhận vào 03 hợp đồng nội dung “UBND phường Đ xác nhận Công ty Cổ phần Đ1 đăng ký kinh doanh trên địa bàn phường là đúng” sau đó ký, đóng dấu chức danh, dấu tròn của UBND phường Đ rồi đưa lại cho D. D phải thanh toán cho ông V1 100.000.000 đồng phí làm trích đo theo yêu cầu của ông V1. Số tiền này là tiền anh T2 đưa cho D để làm trích đo thửa đất.
Tại bản Kết luận giám định số 296/KL-KTHS(TL) ngày 18/12/2023 của Phòng K Công an thành phố H và Kết luận giám định số 720/KL-KTHS ngày 12/3/2024 của V2 Bộ C giám định chữ ký, chữ viết, con dấu, xác định: Chữ ký, dấu chức danh mang tên Phó Chủ tịch Ngô Văn V1 và hình dấu tròn “U.B.N.D PHƯỜNG ĐÔNG HẢI 2 Q.HẢI AN T.P HẢI PHÒNG” trên 03 trích đo và 03 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên so với mẫu chữ ký, mẫu dấu chức danh của ông Ngô Văn V1, mẫu dấu tròn của Ủy ban nhân dân phường Đ là do cùng 01 người ký ra, cùng một con dấu đóng ra.
Tài liệu điều tra xác định: Ông Ngô Văn V1 là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Đ được phân công theo dõi, phụ trách lĩnh vực văn hóa - xã hội, việc ký xác nhận vào các giấy tờ, tài liệu trong lĩnh vực đất đai là không thuộc thẩm quyền của Phó Chủ tịch phụ trách lĩnh vực văn hóa – xã hội, ông V1 thừa nhận ký, đóng dấu vào 05 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (02 hợp đồng lô đất 125m² và 68,8m² D bán cho chị H4, anh V; 03 hợp đồng lô đất D bán cho gia đình anh Nguyễn Quyết T2) và 03 trích đo thửa đất D bán cho gia đình anh T2. Ông Ngô Văn V1 khai nhận do D gọi ông V1 là cậu (họ hàng xa), hai bên thường xuyên qua lại nên ông V1 đồng ý ký xác nhận giúp D. Trích đo do D vẽ trước và đưa cho ông V1, ông V1 chỉ ký mà không làm, vẽ trích đo. Ông V1 phủ nhận việc nhận tiền của D, ông V1 không nhận hoặc được hứa hẹn nhận bất kỳ lợi ích vật chất, tinh thần gì liên quan đến việc ký xác nhận giúp D. Ông V1 cũng không tham gia hay nhận lợi ích gì từ việc D bán các lô đất cho người khác. Tài liệu điều tra ngoài lời khai của D không có chứng cứ khác chứng minh việc ông V1 nhận tiền hay lợi ích khác từ D để ký xác nhận vào các hợp đồng và trích đo trên.
- Về vật chứng vụ án:
- + Số tiền 20.000.000 đồng là tiền D trả hoa hồng cho chị L1, chị L1 đã nộp lại tại cơ quan điều tra để chờ xử lý.
- + 01 hợp đồng đặt cọc ghi ngày 06/4/2024; 01 đơn Vũ Đại D xin xác nhận gửi UBND phường Đ; 01 đơn đề nghị mang tên Nguyễn Thị L; 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không ghi ngày tháng năm, bên chuyển nhượng là Vũ Đại D và bên nhận chuyển nhượng là vợ chồng anh P, chị T1; 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/11/2022; 01 giấy đặt cọc ghi ngày 21/5/2022 do chị Nguyễn Thị Hồng T1 giao nộp là tài liệu lưu trong hồ sơ vụ án.
- + 01 trích đo thửa đất tỷ lệ (01/200) mang tên Trần Thị Thanh T4 và bản gốc các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trích đo thửa đất giả và các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trích đo thửa đất ký sai thẩm quyền do chị Trần Thị H4, anh Nguyễn Quyết T2 giao nộp là tài liệu lưu trong hồ sơ vụ án.
- + 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị L do Ủy ban nhân dân huyện A cấp ngày 18/5/1995 (bản gốc) kèm theo hồ sơ vụ án.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Vũ Đại D đã tự nguyện trả cho vợ chồng chị T1, anh P số tiền 50.000.000 đồng. Ngày 28/7/2024, bà Nguyễn Thị H mẹ của Vũ Đại D đã trả cho vợ chồng chị T1 số tiền 40.000.000 đồng. Chị T1, anh P yêu cầu Vũ Đại D có trách nhiệm trả nốt số tiền còn lại là 278.000.000 đồng.
Tại Bản Cáo trạng số 125/CT-VKSHA ngày 28/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Vũ Đại D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm b Khoản 3 Điều 341của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo Vũ Đại D khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố.
Bị hại chị Nguyễn Thị Hồng T1 và anh Đoàn Huy P vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Tại hồ sơ đã có lời khai thể hiện: Tổng số tiền bị cáo D đã Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh P, chị T1 là 368.000.000 đồng, bị cáo đã tự nguyện bồi thường 50.000.000 đồng, và ngày 28/7/2024 bà Nguyễn Thị H là mẹ đẻ bị cáo đã trả cho vợ chồng chị T1 số tiền 40.000.000 đồng. Chị T1 và anh P yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm trả tiếp số tiền là 278.000.000 đồng và đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Vũ Đại D.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị D1, bà Nguyễn Thị H2 và ông Trần Đại V, anh Nguyễn Quyết T2 vắng mặt có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, tại hồ sơ có lời khai sơ thể hiện:
- + Bà Nguyễn Thị D1 xác nhận đã đưa cho D số làm trích đo là 15.000.000 đồng bà D1 không yêu cầu bị cáo D phải trả lại số tiền trên và đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Vũ Đại D.
- + Bà Nguyễn Thị H2 và ông Trần Đại V mua cả 4 mảnh đất trên chỉ biết nguồn gốc là đất hợp tác xã N cũ, việc mua bán chỉ có giấy tờ viết tay dưới dạng hợp đồng chuyển nhượng, không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện cả 4 thửa đất trên vẫn do bà H2, ông V quản lý, sử dụng.
- + Anh Nguyễn Quyết T2 khai khi mua cả 3 thửa đất trên chỉ biết nguồn gốc là đất phi nông nghiệp không được chuyển đổi chưa có có giấy chứng nhận quyển sử dụng đất. Nhưng D đảm bảo là sẽ chuyển nhượng được. Toàn bộ số tiền 1.862.000.000 đồng là tiền mua đất, và 100.000.000 đồng là tiền làm trích đo anh T2 đều đưa cho D với tổng số là 1.962.000.000 đồng và giao dịch trực tiếp với D. Hiện cả 3 thửa đất trên vẫn do anh T2 quản lý, sử dụng.
Do vậy, bà Nguyễn Thị H2 và ông Trần Đại V; anh Nguyễn Quyết T2 không yêu cầu Tòa án giải quyết về trách nhiệm dân sự. Nếu sau này phát sinh tranh chấp thì bà Nguyễn Thị H2 và ông Trần Đại V; anh Nguyễn Quyết T2 sẽ khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác.
- + Ông Nguyễn Văn H1: Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ vắng mặt tại hồ sơ đã có lời khai và ngày 15/11/2024 có đơn đề nghị thể hiện: Năm 2003 ông được ông Bùi Văn B1 và bà Nguyễn Thị L nhượng lại cho 01 thửa đất tại Khu dân cư H, phường Đ, quận H. Diện tích đất hoang hóa, ông đã xây móng nhà nhà và sử dụng ổn định từ đó đến nay thì mới biết thửa đất trên là đất nông nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nay thửa đất trên bà L cũng xác nhận là đã bán cho ông H1. Vì vậy, ông H1 đề nghị Tòa án xem xét trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho ông.
- + Chị Trần Thị Thanh T4; ông Ngô Văn V1; chị Đỗ Thị T3; chị Lê Thị D2, chị Phạm Thị L1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Tuy nhiên, vắng mặt không có lý do Tòa án đã công bố lời khai có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố và luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An thành phố Hải Phòng đề nghị Hội đồng xét xử : Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự; Điều 38; điểm b, s khoản 1và khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 56 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Vũ Đại D với mức án từ 11 năm tù đến 12 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và từ 04 năm tù đến 05 năm tù về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt đối với 02 tội mức án từ 15 năm - 17 năm tù. Cộng với 13 năm 06 tháng tù theo bản án số 553/2024/HS-PT ngày 15/7/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Tổng hợp hình phạt chung của 02 bản án, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 28 năm 06 tháng tù đến 30 năm tù.
- - Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên xét thấy bị cáo đã bị tạm giam từ năm 2022, không có tài sản thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
- - Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + 01 hợp đồng đặt cọc ghi ngày 06/4/2024, 01 đơn Vũ Đại D xin xác nhận gửi UBND phường Đ 2, 01 đơn đề nghị mang tên Nguyễn Thị L, 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không ghi ngày tháng năm, bên chuyển nhượng là Vũ Đại D và bên nhận chuyển nhượng là vợ chồng anh P, chị T1, 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/11/2022, 01 giấy đặt cọc ghi ngày 21/5/2022 do chị Nguyễn Thị Hồng T1 giao nộp là tài liệu lưu trong hồ sơ vụ án.
- + 01 trích đo thửa đất tỷ lệ (01/200) mang tên Trần Thị Thanh T4 và bản gốc các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trích đo thửa đất giả và các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trích đo thửa đất ký sai thẩm quyền do chị Trần Thị H4, anh Nguyễn Quyết T2 giao nộp là tài liệu lưu trong hồ sơ vụ án.
- + Buộc bị cáo Vũ Đại D phải nộp lại số tiền thu lời bất chính là 14.300.000 (mười bốn triệu, ba trăm nghìn) đồng để tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- + Trả lại cho chị Nguyễn Thị Hồng T1 và anh Đoàn Huy P số tiền 20.000.000 đồng, đây là số tiền chị T1, anh P đã mua đất của Vũ Đại D cho chị L1 tiền hoa hồng khi tìm được khách hàng là chị T1 và anh P, chị L1 tự nguyện nộp lại. (theo biên lai thu số 0004824 ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).
- + Trả lại cho anh Nguyễn Văn H1 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0496374 mang tên bà Nguyễn Thị L số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02294 QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện A cấp ngày 18/5/1995 (bản gốc).
- - Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự.
- + Buộc bị cáo Vũ Đại D phải bồi thường trả cho chị Nguyễn Thị Hồng T1 và anh Đoàn Huy P số tiền chiếm đoạt là [278.000.000 - 20.000.000 đồng] = 258.000.000 đồng.
- - Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
- - Kiến nghị Ủy ban nhân dân phường Đ thực hiện tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động công vụ đối với các chức danh được bổ nhiệm của Ủy ban nhân dân phường; tăng cường công tác chỉ đạo, thực hiện nghiêm túc công tác văn thư, công tác quản lý và sử dụng con dấu quy định tại Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 03/5/2020 của Chính phủ về công tác văn thư; Nghị định số 99/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ về quản lý và sử dụng con dấu; tăng cường công tác tuyên truyền các chính sách về quản lý đất đai tại địa phương, các quy định pháp luật về đất đai để nâng cao nhận thức, nâng cao cảnh giác của người dân trong việc chuyển nhượng, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tránh việc bị các đối tượng lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Sau khi kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt, để bị cáo có cơ hội sửa chữa thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Đại D và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về sự vắng mặt của bị hạị; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng:
[2] Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng đã triệu tập hợp lệ bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị D1, bà Nguyễn Thị H2 và ông Trần Đại V, anh Nguyễn Quyết T2 vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt; ông Nguyễn Văn H1, những người làm chứng có mặt bà H; ông Ngô Văn V1, chị Đỗ Thị T3, chị Lê Thị D2, chị Phạm Thị L1, chị Trần Thị Thanh T4 vắng mặt không có ý do. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292; khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng.
- Về tội danh:
[3] Lời khai của bị cáo Vũ Đại D tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: Trong khoảng thời gian từ ngày 06/4/2022 đến ngày 12/4/2022, bị cáo Vũ Đại D đã dùng thủ đoạn gian dối sử dụng 02 tài liệu giả của Ủy ban nhân dân phường Đ để thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích đất 61m² thuộc thửa đất số 287, tờ bản đồ số 11 địa chỉ H, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng thuộc sở hữu của người khác (không thuộc sở hữu của Vũ Đại D) để bán cho vợ chồng chị Nguyễn Thị Hồng T1 và anh Đoàn Huy P chiếm đoạt tổng số tiền 368.000.000 đồng. Đồng thời trong khoảng thời gian từ tháng 8/2021 đến tháng 3/2022, Vũ Đại D đã sử dụng 07 tài liệu giả gồm 01 biên bản xác định mốc giới đất, 03 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, 03 trích đo thửa đất có chữ ký giả, hình dấu chức danh giả của Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng hình dấu giả của Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng để 03 lần thực hiện các giao dịch dân sự và chuyển nhượng quyền sử dụng đất trái quy định pháp luật. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Đại D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 của Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
[4] Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.
- Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
[5] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác; xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước về sử dụng con dấu, tài liệu, gây dư luận xấu trong nhân dân gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc.
- Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[6] Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “ Phạm tội 02 lần trở lên” và “tái phạm” theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[7] Xét nhân thân bị cáo năm 2007 Tòa án nhân dân quận Hải An xử 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Chống người thi hành công vụ” (đã xóa án tích); năm 2018, Tòa án nhân dân quận Hải An xử phạt Vũ Đại D 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa được xóa án tích). Ngoài ra, tại Bản án số 65/2024/HSST ngày 28/03/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 15 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 15/7/2024 Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội sửa bản án xử phạt bị cáo 13 năm 06 tháng tù theo bản án số 553/2024/HS-PT ngày 15/7/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Như vậy chứng tỏ bị cáo có nhân thân rất xấu, không có ý thức cải tạo tu dưỡng để làm người công dân lương thiện. Vì vậy, cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo; tại giai đoạn điều tra, gia đình bị cáo đã khắc phục một phần hậu quả cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
[8] Ngoài hình phạt chính, bị cáo Vũ Đại D còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 174 và khoản 4 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo không có công việc ổn định, không có thu nhập và tài sản riêng, và hiện đang bị tạm giam từ năm 2022, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
[9] Áp dụng Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + 01 hợp đồng đặt cọc ghi ngày 06/4/2024, 01 đơn Vũ Đại D xin xác nhận gửi UBND phường Đ 2, 01 đơn đề nghị mang tên Nguyễn Thị L, 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không ghi ngày tháng năm, bên chuyển nhượng là Vũ Đại D và bên nhận chuyển nhượng là vợ chồng anh P, chị T1, 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/11/2022, 01 giấy đặt cọc ghi ngày 21/5/2022 do chị Nguyễn Thị Hồng T1 giao nộp là tài liệu lưu đã được đánh dấu bút lục có trong hồ sơ vụ án.
- + 01 trích đo thửa đất tỷ lệ (01/200) mang tên Trần Thị Thanh T4 và bản gốc các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trích đo thửa đất giả và các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trích đo thửa đất ký sai thẩm quyền do chị H2, anh T2 giao nộp là tài liệu lưu đã được đánh dấu bút lục có trong hồ sơ vụ án.
- + Buộc bị cáo Vũ Đại D phải nộp lại số tiền thu lời bất chính là 14.300.000 (mười bốn triệu, ba trăm nghìn) đồng là tiền thu lời bất chính để tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- + Trả lại cho chị Nguyễn Thị Hồng T1 và anh Đoàn Huy P số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng, đây là số tiền chị T1, anh P đã mua đất của Vũ Đại D cho chị L1 tiền hoa hồng khi tìm được khách hàng là chị T1 và anh P, chị L1 tự nguyện nộp lại (Theo biên lai thu số 0004824 ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).
- + Trả lại cho ông Nguyễn Văn H1 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0496374 mang tên bà Nguyễn Thị L số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02294 QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện A cấp ngày 18/5/1995 (bản gốc).
- - Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự.
- [10] Buộc bị cáo Vũ Đại D phải bồi thường trả cho chị Nguyễn Thị Hồng T1 và anh Đoàn Huy P số tiền chiếm đoạt còn lại là 258.000.000 (hai trăm năm mươi tám triệu) đồng.
- [11] Về tổng hợp hình phạt: Ngoài lần phạm tội trên ra, tại Bản án số 65/2024/HSST ngày 28/03/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 15 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngày 15/7/2024 Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội sửa bản án xử phạt bị cáo 13 năm 06 tháng tù theo bản án số 553/2024/HS-PT ngày 15/7/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Nên cần tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
[12] Đối với bà Nguyễn Thị D1, không biết việc Vũ Đại D làm giả trích đo thửa đất mang tên Trần Thị Thanh T4. Việc mua bán đất giữa bà D1 và chị Trần Thị Thanh T4 là giao dịch dân sự. Vì vậy, hành vi của bà Nguyễn Thị D1 không cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo theo Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội làm giả, sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo Điều 341 Bộ luật Hình sự.
[13] Đối với chị Phạm Thị L1, chị Đỗ Thị T3, chị Lê Thị D2 không biết việc Vũ Đại D làm giả tài liệu cũng như không được hưởng lợi gì từ việc D bán đất cho vợ chồng chị T1 nên không có căn cứ xử lý.
[14] Đối với việc Vũ Đại D sử dụng tài liệu giả chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà Trần Thị H4 và ông Trần Đại V; anh Nguyễn Quyết T2. Xét thấy các lô đất Dương chuyển nhượng có nguồn gốc do bà Nguyễn Thị H (mẹ của D) nhận chuyển nhượng từ Hợp tác xã N sau đó cho D quyền sử dụng, định đoạt; sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ D, vợ chồng bà H4 và gia đình anh T2 biết không phải là đất thổ cư, đã nhận đất trên thực tế và quản lý, sử dụng nên việc D chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng chị H4 và gia đình anh T2 được xác định là giao dịch dân sự. Vì vậy không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Vũ Đại D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự. Nếu sau này phát sinh tranh chấp thì bà Nguyễn Thị H2, ông Trần Đại V, anh Nguyễn Quyết T2 sẽ khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[15] Đối với việc chị Trần Thị Thanh T4 mua mảnh đất của bà Nguyễn Thị D1 tại thửa đất số 14, tờ bản đồ số 12, địa chỉ thửa đất H, phường Đ, quận H. Nếu sau này phát sinh tranh chấp thì chị Trần Thị Thanh T4 sẽ có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác. Nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[16] Đối với người làm giả các tài liệu, giấy tờ cho Vũ Đại D không xác định được căn cước, lai lịch nên không có căn cứ xử lý.
[17] Đối với ông Ngô Văn V1 có hành vi vượt quá quyền hạn làm trái công vụ nhưng tài liệu điều tra không có căn cứ chứng minh thiệt hại về tài sản cũng như thiệt hại khác do hành vi của ông Ngô Văn V1 gây ra do đó chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Ngô Văn V1 theo quy định tại Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, cần kiến nghị Ủy ban nhân dân phường Đ 2 quận H xử lý cán bộ Đảng viên theo đúng quy định của pháp luật.
- Về án phí:
[18] Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Vũ Đại D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 12.900.000 đồng tiền án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo:
[19] Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Vũ Đại D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Xử phạt bị cáo: Vũ Đại D 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 04 (bốn) năm tù về tội “Sử dụng con dấu tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội là 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù. Cộng với 13 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 553/2024/HS-PT ngày 15/7/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Tổng hợp hình phạt của 02 Bản án, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 29 (hai mươi chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/12/2022.
- Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + Buộc bị cáo Vũ Đại D phải nộp lại số tiền thu lời bất chính là 14.300.000 (mười bốn triệu, ba trăm nghìn) đồng, để tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- + Trả lại cho chị Nguyễn Thị Hồng T1 và anh Đoàn Huy P số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng (Theo biên lai thu số 0004824 ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng).
- + Trả lại cho ông Nguyễn Văn H1 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D 0496374 mang tên bà Nguyễn Thị L số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 02294 QSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện A cấp ngày 18/5/1995 (bản gốc).
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các điều 584, 585, 589 của Bộ luật Dân sự.
- + Buộc bị cáo Vũ Đại D phải bồi thường trả cho chị Nguyễn Thị Hồng T1 và anh Đoàn Huy P số tiền chiếm đoạt là 258.000.000 (hai trăm năm mươi tám triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Vũ Đại D phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 12.900.000 (mười hai triệu, chín trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Vũ Đại D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị hại chị Nguyễn Thị Hồng T1 và anh Đoàn Huy P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Quyết T2, bà Nguyễn Thị H2 và ông Trần Đại V, bà Nguyễn Thị D1, ông Nguyễn Văn H1 có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Đối với ông Ngô Văn V1 là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Đ được phân công theo dõi, phụ trách lĩnh vực văn hóa - xã hội, việc ký xác nhận vào các giấy tờ, tài liệu trong lĩnh vực đất đai là không thuộc thẩm quyền của Phó Chủ tịch phụ trách lĩnh vực văn hóa - xã hội. Kiến nghị Ủy ban nhân dân phường Đ 2 quận H xử lý cán bộ Đảng viên theo đúng quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Bích Phượng |
Bản án số 146/2024/HSST ngày 15/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 146/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Đại D - Lừa đảo CĐTS
