|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 146/2024/HSST Ngày: 31 - 10 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tuyết .
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Lợi
Bà Hoàng Thị Kim Phượng
Thư ký phiên toà: Ông Bùi Việt Cường - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình - tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 130/2024/TLST - HS ngày 11 tháng 10 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 142/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Đỗ Văn Đ, sinh năm 1996 tại Ninh Bình; Tên gọi khác: Không; Nơi thường trú: Phố C, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nơi ở trước khi bị tạm giam: Xóm G N, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Văn T và con bà: Phạm Thị B; Vợ: Đinh Thị N; Con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Chưa có; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
-
Họ và tên: Đỗ Hải Đ1, sinh năm 1993 tại Ninh Bình; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Số nhà A, đường L, phố B, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Công chức Phòng Văn hóa – Thông tin, Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Ninh Bình; Là Đảng viên Đ2 (Đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 105-QĐ/UBKTHU ngày 10/10/2024 của Ủy ban kiểm tra huyện ủy H); Trình độ văn hóa: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Đình S và con bà: Hà Thị Thúy H; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, Tiền sự: Chưa có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đến nay. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Các bị cáo Đỗ Văn Đ và Đỗ Hải Đ1 có mối quan hệ quen biết với nhau, Đỗ Văn Đ sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max có cài đặt ứng dụng Facebook Messenger mang tên “Thành Đạt (Cố Gắng)” để nhận các số lô qua tài khoản Facebook Messenger mang tên “Đỗ Hải Đ1” của Đ1. Sau đó Đ tự tổng hợp và thanh toán tiền thắng thua cho Đ1.
Hành vi đánh bạc bằng hình thức “Mua bán số lô, số đề” được thua bằng tiền của Đỗ Văn Đ và Đỗ Hải Đ1 được thống nhất cách thức như sau:
+ Đối với “số đề” có hai loại, gồm loại “02 số” và loại “03 số”, người mua chọn mua một hoặc nhiều cặp số bất kỳ (từ cặp số 00 đến cặp số 99, đối với loại “02 số” và từ cặp số 000 đến cặp số 999 đối với loại “03 số”), giá trị mỗi cặp số mua bao nhiêu là tùy người mua. Việc thanh toán được thống nhất với nhau là: Lấy hai số cuối của giải đặc biệt đối với loại “02 số” và 03 số cuối của giải đặc biệt đối với loại “03 số” của xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày để đối chiếu; nếu cặp số của người mua trùng với hai số hoặc ba số cuối của giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền B thì người mua “trúng đề”. Trong trường hợp này, người “trúng đề” sẽ được trả tiền có giá trị gấp 80 lần số tiền người “trúng đề” đã bỏ ra mua các cặp số đối với loại “02 số” và gấp 400 lần đối với loại “03 số”. Ngược lại, nếu người mua không “trúng đề” thì người bán sẽ được hưởng toàn bộ số tiền người mua đã bỏ ra mua các cặp số đề.
+ Đối với “số lô” gồm có “lô Hà Nội” và “lô xiên”:
Đối với “lô Hà Nội” thì người mua chọn mua một hoặc nhiều cặp số bất kỳ từ cặp số 00 đến cặp số 99. Giá trị mỗi cặp số là 22.000 đồng được tính là 01 điểm. Việc thanh toán được thống nhất với nhau là: Lấy hai số cuối của các giải trong 07 giải xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày để đối chiếu; nếu cặp số của người mua trùng khớp với hai số cuối của một hoặc các giải thưởng trong 07 giải xổ số kiến thiết miền B hôm đó thì người mua “trúng lô”. Cứ 01 điểm “lô Hà Nội” nếu trùng khớp với một giải thì được nhận 80.000 đồng; trùng khớp hai giải thì được 160.000 đồng. Trong trường hợp này người bán sẽ thanh toán tiền cho người mua. Ngược lại, nếu người mua không “trúng lô” thì người bán sẽ được hưởng toàn bộ số tiền người mua đã bỏ ra mua các cặp số lô.
“Lô xiên” gồm có “xiên 2”, “xiên 3”, “xiên 4”. Khác với “lô Hà Nội”, người mua phải lựa chọn mua hai cặp số bất kỳ đối với loại “lô xiên 2”, ba cặp số bất kỳ đối với loại “lô xiên 3”, bốn cặp số bất kỳ đối với loại “lô xiên 4”, từ cặp số 00 đến 99. Giá trị mỗi cặp số mua bao nhiêu là tùy người mua. Việc đối chiếu thanh toán cũng đối chiếu với hai số cuối của các giải trong 07 giải xổ số kiến thiết miền B mở thưởng trong ngày. Nếu hai cặp số của người mua trùng với hai số cuối của một trong các giải thưởng trong 07 giải kết quả xổ số thì người mua trúng “lô xiên 2”, nếu ba cặp số của người mua trùng với ba số cuối của một trong các giải thưởng trong 07 giải kết quả xổ số thì người mua trúng “lô xiên 3”, nếu bốn cặp số của người mua trùng với bốn cặp số cuối của một trong các giải thưởng trong 07 giải kết quả xổ số thì người mua trúng “lô xiên 4”. Trong trường hợp này, người bán sẽ thanh toán cho người mua trúng thưởng có giá trị gấp 10 lần số tiền người “trúng lô” đã bỏ ra mua các cặp số đối với loại “lô xiên 2”, gấp 40 lần đối với loại “lô xiên 3” và gấp gấp 100 lần đối với loại “lô xiên 4”. Ngược lại, nếu người mua không “trúng lô xiên” thì người bán được hưởng toàn bộ số tiền người mua đã bỏ ra mua các cặp số lô.
Từ cách tính thắng thua như trên, trong ngày 26/6/2024 Đỗ Văn Đ và Đỗ Hải Đ1 đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề thông qua tin nhắn Facebook Messenger cài đặt trên điện thoại di động, cụ thể như sau: Khoảng 18 giờ ngày 26/6/2024, Đ1 sử dụng điện thoại nhắn tin mua của Điệu 14 số lô Hà Nội (tổng 2000 điểm) = 44.000.000 đồng; 14 số đề “loại 02 số” = 2.200.000 đồng, 14 số đề “loại 03 số” = 2.200.000 đồng; 06 cặp “lô xiên 2” = 600.000 đồng; 03 cặp “lô xiên 3” = 100.000 đồng; 01 cặp “lô xiên 4” = 100.000 đồng. Tổng số tiền gốc là 49.400.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng ngày 26/6/2024, Đ1 trúng thưởng 650 điểm lô Hà Nội thành tiền là 52.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Đỗ Văn Đ và Đỗ Hải Đ1 sử dụng để đánh bạc là 101.400.000 đồng. Điệu và Đ1 đã thanh toán thắng thua với nhau.
Quá trình điều tra đã thu giữ của Đỗ Hải Đ1 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max. Ngoài ra Đ1 còn tự nguyện giao nộp số tiền 3.440.000 đồng là tiền liên quan đến việc đánh bạc ngày 26/6/2024.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro Max là chiếc điện thoại mà Đ sử dụng để nhắn tin mua bán số lô, số đề với Đ1. Quá trình điều tra, Đ khai nhận vào khoảng ngày 19/7/2024 khi Đ đi tắm biển thì chiếc điện thoại của Đ bị rơi xuống nước và bị hư hỏng nặng nên Đ đã vứt đi, vì vậy Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Tại bản Cáo trạng số 138/CT-VKSNB ngày 09/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố các bị cáo Đỗ Văn Đ, Đỗ Hải Đ1 về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, không thay đổi, bổ sung gì và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn Đ, Đỗ Hải Đ1 phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Đ 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 năm, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Đỗ Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Đỗ Văn Đ có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Phạt bổ sung từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng.
Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Hải Đ1 từ 27 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 54 đến 60 tháng, kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Đỗ Hải Đ1 cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Đỗ Hải Đ1 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Phạt bổ sung từ 10 triệu đồng đến 15 triệu đồng.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro Max lắp thu của Đỗ Hải Đ1.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước đối với bị cáo Đỗ Văn Đ số tiền 49.400.000 đồng; bị cáo Đỗ Hải Đ1 số tiền 52.000.000 đồng, trừ đi số tiền 3.440.000 đồng bị cáo Đ1 đã nộp. Bị cáo Đ1 còn phải nộp: 48.560.000 đồng.
- Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Đỗ Văn Đ, Đỗ Hải Đ1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; không có ý kiến gì với Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình.
Các bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về tội danh: Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; Phù hợp với biên bản sự việc, biên bản xác minh, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Ngày 26/6/2024 các bị cáo Đỗ Văn Đ và Đỗ Hải Đ1 đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức “mua số lô, số đề” được thua bằng tiền qua tin nhắn Facebook M, với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 101.400.000 đồng.
Hành vi phạm tội của các bị cáo xâm hại trực tiếp đến trật tự công cộng, là tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trị an, gây thiệt hại về kinh tế và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Từ tội phạm này thường là nguyên nhân, mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Việc đấu tranh phòng chống loại tội phạm này là rất cần thiết nhằm ngăn chặn tệ nạn cờ bạc đang có chiều hướng gia tăng, giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ sức khoẻ, tài sản của công dân. Các bị cáo đều là người trưởng thành nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, biết rõ việc mua bán số lô, số đề là hình thức đánh bạc bị Nhà nước nghiêm cấm, nhưng vì mục đích vụ lợi cho bản thân nên các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố các bị cáo theo Điểm b Khoản 2, Khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 321. Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Về nhân thân: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Do đó xác định các bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Đ trước khi phạm tội bị cáo bị bệnh rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm, khám và điều trị tại Viện sức khoẻ tâm thần – Bệnh viện B1, hiện tại vẫn phải sử dụng thuốc điều trị nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Đ1 có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua của tỉnh được UBND tỉnh N tặng Bằng khen và bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 3.440.000 đồng để khắc phục hậu quả nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
[4] Về hình phạt: Các bị cáo phạm tội với vai trò là đồng phạm giản đơn, không mang tính tổ chức, không mang tính chuyên nghiệp. Vì vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng bị cáo cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, cần buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tương xứng với hành vi của mỗi bị cáo gây ra. Trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo như sau:
Đối với bị cáo Đ là người bán số lô số đề cho bị cáo Đ1 mục đích là để kiếm lợi nhuận cho bản thân, bị cáo phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Đ1; Bị cáo Đ1 là người mua số lô, số đề đến bị cáo Đ, mục đích kiếm lợi nhuận cho bản thân, bị cáo chịu hình phạt thấp hơn bị cáo Đ, bị cáo Đ1 có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không nhất thiết buộc các bị cáo phải chịu mức hình phạt tù cách ly xã hội mà cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho các bị cáo tự cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát của chính quyền cũng đủ răn đe, phòng ngừa. Việc cho các bị cáo cải tạo tại địa phương không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội với động cơ, mục đích vụ lợi nên áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[5] Về xử lý vật chứng: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max thu của Đỗ Hải Đ1 là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền 101.400.000 đồng các bị cáo dùng đánh bạc, cần thu sung ngân sách nhà nước. Trong đó bị cáo Đăng trúng thưởng là 52.000.000 đồng, bị cáo Đ bán số lô, số đề cho bị cáo Đ1 là 49.400.000 đồng. Do vậy, thu của bị cáo Đ số tiền 49.400.000 đồng; T1 của bị cáo Đ1 số tiền 52.000.000 đồng, bị cáo Đ1 được trừ 3.440.000 đồng đã nộp, còn phải nộp 48.560.000 đồng.
[6] Các vấn đề khác:
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max là điện thoại mà Đ sử dụng để nhắn tin mua bán số lô, số đề với Đ1. Quá trình điều tra, Đ khai nhận vào khoảng ngày 19/7/2024 khi Đ đi tắm biển thì chiếc điện thoại của Đ bị rơi xuống nước và bị hư hỏng nặng nên Đ đã vứt đi, vì vậy Cơ quan điều tra không thu giữ được.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Đỗ Văn Đ, Đỗ Hải Đ1 bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Văn Đ, Đỗ Hải Đ1 phạm tội “Đánh bạc”.
-
Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Đ 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (Năm) năm, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Đỗ Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Đỗ Văn Đ có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.
Phạt bổ sung bị cáo Đỗ Văn Đ 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).
Trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo Đỗ Văn Đ đang bị tạm giam, nếu bị cáo Đỗ Văn Đ không bị tạm giam về một tội khác.
-
Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s điểm v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đỗ Hải Đ1 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (Năm) năm, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Đỗ Hải Đ1 cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Đỗ Hải Đ1 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.
Phạt bổ sung bị cáo Đỗ Hải Đ1 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
-
- Thu sung ngân sách Nhà nước đối với bị cáo Đỗ Văn Đ số tiền 49.400.000 đồng; đối với bị cáo Đỗ Hải Đ1 số tiền 52.000.000 đồng, bị cáo Đ1 được trừ 3.440.000 đồng đã nộp, còn phải nộp 48.560.000 đồng.
Số tiền 3.440.000 đồng hiện đang quản lý tại tài khoản số 3949 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Ninh Bình tại Kho bạc Nhà nước tỉnh N theo Uỷ nhiệm chi lập ngày 16 tháng 10 năm 2024.
-
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 15 Pro Max lắp thu của Đỗ Hải Đ1;
(Đặc điểm các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Đỗ Văn Đ, Đỗ Hải Đ1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Thị Tuyết |
Bản án số 146/2024/HSST ngày 31/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH về hình sự: đánh bạc
- Số bản án: 146/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Đỗ Văn Đ, Đỗ hải Đ phạm tội "Đánh bạc"
