TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 146/2024/HS-ST Ngày: 31/10/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Khánh Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thoại và ông Hồ Quốc Thánh.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Diện – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà tham gia phiên tòa: ông Trần Công Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 141/2024/TLST-HS ngày 04/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2024/QĐXXST-HS ngày 18/10/2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Tuấn N; Tên gọi khác: Heo; Sinh ngày: 23/10/1995, tại tỉnh Quảng Trị; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Khu phố B, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Thanh V, sinh năm 1969; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con bà: Dương Thị H, sinh năm 1966; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Cả hai hiện trú tại: Khu phố B, phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Gia đình có 03 anh em, bị can là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có.
Tiền sự: Không; tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/6/2024, đến ngày 20/6/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ cho đến nay. Có mặt.
2. Nguyễn Đức T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 27/8/1995, tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố A, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Con ông: Nguyễn Đức T1, sinh năm 1966 (Đã chết); Con bà: Lưu Thị Diệu N1, sinh năm 1970; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Hiện trú tại: Khu phố A, phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có;
Tiền sự: Không; Tiền án: Không;
Nhân thân:
+ Bị Công an phường C, thành phố Đ xử phạt vi phạm hành chính 75.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” tại Quyết định xử phạt số 44B/QĐ-XPHC ngày 16/8/2013.
+ Bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 06 tháng 02 ngày tù (bằng với thời hạn tạm giam) về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Bị can bị tạm giữ từ ngày 11/6/2024, đến ngày 20/6/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Xuân L; địa chỉ: Khu phố C, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 11/6/2024, Nguyễn Tuấn N rủ Nguyễn Đức T mua ma túy về sử dụng thì T đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, BKS 74K1- 0635 (thuộc sở hữu của anh Hoàng Xuân L) chở N đi đến khu vực đường T (thuộc khu phố B, phường A, thành phố Đ). Tại đây, N trực tiếp tìm gặp 01 nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) mua được 05 viên ma túy hồng phiến với giá 150.000 đồng (số ma túy trên được đựng trong một đoạn ống nhựa màu trắng). Sau khi có ma túy, N cất giấu tại tay phải của mình rồi nói với T tìm nơi để sử dụng nên T đã điều khiển xe mô tô chở N đến căn nhà hoang trước nhà số C đường B (thuộc khu phố A, phường C, thành phố Đ). Khi vào trong nhà, N thấy có sẵn 01 chai nhựa trong suốt, trên chai nhựa đục 01 lỗ nhỏ gắn tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng cuộn tròn nên N đổ nước vào, tiếp đó N dùng 01 mảnh giấy kẽm từ trong bao thuốc lá để làm xẻng. Sau khi làm dụng cụ sử dụng ma tuý, N lấy 02 viên ma tuý bỏ lên xẻng và dùng 01 bật lửa màu đỏ đốt lên để sử dụng. Trong khi N đang sử dụng ma tuý thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.
Tại bản Kết luận giám định số 723/KL-KTHS ngày 19/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: 05 viên nén hình trụ tròn, màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có chữ WY có khối lượng 0,4422 gam là ma túy loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số 145/CT-VKSĐH, ngày 03/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà truy tố các bị cáo Nguyễn Tuấn N và Nguyễn Đức T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận về hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố, rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình mong Hội đồng xét xử, giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà thực hành quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội, sau khi phân tích các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tuấn N và Nguyễn Đức T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng Khoản 1 Điều 255; Điều 38; điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn N mức án từ 28 tháng đến 30 tháng tù.
Áp dụng Khoản 1 Điều 255; Điều 38; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T mức án từ 26 tháng đến 28 tháng tù.
Về vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:
- * Tịch thu tiêu hủy gồm:
- - Số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì kí hiệu QTS-723 có chữ kí của những người tham gia niêm phong và dấu của Phòng K Công an tỉnh Q; 01 chai nhựa màu trắng trong suốt có kích thước 21x5x2,3cm trên thân chai được đục lỗ; 01 bật lửa màu đỏ.
- * Tịch thu sung công, gồm:
- - Tiền Ngân hàng N2 đang lưu hành mệnh giá 1.000 đồng;
- * Trả lại tài sản:
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SE, màu đen xám, số IMEI 359144079077478;
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tuấn N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng, số IMEI 359284064454686
Tiếp tục tạm giữ các tài sản trên để đảm bảo thi hành án.
(Số vật chứng trên có tình trạng và đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an Thành phố Đ và Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Đông Hà ngày 24/10/2024).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hợp pháp, phù hợp với các quy định của pháp luật.
[2] Nội dung vụ án: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Tuấn N và Nguyễn Đức T hoàn toàn khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng tại cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản vụ việc; vật chứng thu giữ; Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 15 giờ ngày 11/6/2024, Nguyễn Tuấn N rủ Nguyễn Đức T mua ma túy về sử dụng thì T đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, BKS 74K1-0635 (thuộc sở hữu của anh Hoàng Xuân L) chở N đi đến khu vực đường T mua được 05 viên ma túy hồng phiến với giá 150.000 đồng. Sau khi có ma túy, N và T đến căn nhà hoang trước nhà số C đường B (thuộc khu phố A, phường C, thành phố Đ) để cùng sử dụng. Trong khi N đang sử dụng ma tuý thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang 05 viên ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,4422 gam. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Methamphetamine là dạng ma túy tổng hợp, là chất Nhà nước cấm mua bán, trao đổi, sử dụng nhưng vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Xét về hành vi và chất ma túy mà các bị cáo sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" quy định khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét vai trò của từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn; các bị cáo tổ chức sử dụng với khối lượng ma tuý ít. Bị cáo Nghĩa là người có vai trò khởi xướng, tìm mua ma túy, trực tiếp bỏ số tiền 150.000 đồng để mua 05 viên ma túy tổng hợp hồng phiến, tìm và chuẩn bị các công cụ phục vụ cho việc tổ chức sử dụng. Do đó bị cáo có vai trò quan trọng, người khởi xướng trong vụ án.
Đối với Nguyễn Đức T, bị cáo dù không khởi xướng việc tìm mua ma túy về sử dụng và chuẩn bị các công cụ để thực hiện việc sử dụng ma túy nhưng bị cáo đã có vai trò trong việc chuẩn bị phương tiện và tìm địa điểm cùng sử dụng trái phép ma túy.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Tuấn N và Trần Đức T2 đã cố ý xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ. Vì vậy cần có mức hình phạt phù hợp với tính chất mức độ của từng bị cáo nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử, thấy:
Nhân thân: Bị cáo Nguyễn Đức T đã từng bị Công an phường C, thành phố Đ xử phạt vi phạm hành chính 75.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 06 tháng 02 ngày tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Nguyễn Tuấn N và Trần Đức T2 khi bị bắt cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, do vậy cần xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.
Đối với bị cáo Trần Đức T2 có xác nhận của chính quyền địa phương là lao động chính trong gia đình, bố mất sớm, mẹ già yếu nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, dù giảm nhẹ đến đâu cũng cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo.
[5] Đối với người nam thanh niên bán ma túy cho N, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra nhưng không xác định được nên không có căn cứ để xử lý.
[6] Đối với anh Hoàng Xuân L là chủ sở hữu xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, BKS 74K1-0635 cho Trần Đức T2 mượn xe để sử dụng nhưng không biết việc T2 sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không xem xét xử lý. Ngày 02/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hửu hợp pháp anh Hoàng Xuân L, anh L không có yêu cầu dân sự gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Xử lý vật chứng: Số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 01 túi niêm phong kí hiệu QTS-723 có chữ kí của những người tham gia niêm phong và dấu của Phòng K Công an tỉnh Q; 01 chai nhựa màu trắng trong suốt có kích thước 21x5x2,3cm trên thân chai được đục lỗ; 01 bật lửa màu đỏ đã qua sử dụng. Các vật chứng trên là ma túy và vật dụng liên quan đến việc tổ chức sử dụng ma túy của bị cáo, không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Sung công quỹ tiền Ngân hàng N2 đang lưu hành mệnh giá 1.000 đồng.
- Đối với 02 chiếc điện thoại của Nguyễn Tuấn N và Trần Đức T2, quá trình điều tra thấy rằng bị cáo không sử dụng điện thoại trong quá trình thực hiện phạm tội. Do đó, cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SE, màu đen xám, số IMEI 359144079077478; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tuấn N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng, số IMEI 359284064454686.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Quyết định tạm giam đối với các bị cáo N và T còn dưới 45 ngày nên HĐXX ra Quyết định tạm giam mới.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Tuấn N và Trần Đức T2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn N 26(Hai mươi sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 11/6/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Đức T2 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 11/6/2024
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:
- * Tịch thu tiêu hủy gồm:
- - Số ma túy và bao gói hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì kí hiệu QTS-723 có chữ kí của những người tham gia niêm phong và dấu của Phòng K Công an tỉnh Q; 01 chai nhựa màu trắng trong suốt có kích thước 21x5x2,3cm trên thân chai được đục lỗ; 01 bật lửa màu đỏ.
- * Tịch thu sung công, gồm:
- - Tiền Ngân hàng N2 đang lưu hành mệnh giá 1.000 đồng;
- * Trả lại tài sản:
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SE, màu đen xám, số IMEI 359144079077478;
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tuấn N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng, số IMEI 359284064454686.
Tiếp tục tạm giữ các tài sản trên để đảm bảo thi hành án.
(Số vật chứng trên có tình trạng và đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an Thành phố Đ và Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Đông Hà ngày 24/10/2024).
- * Tịch thu tiêu hủy gồm:
- Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử: Bị cáo Nguyễn Tuấn N và Trần Đức T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo đối với bản án:
Các bị cáo, người có quyền lợi nghãi vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Khánh Phương |
Bản án số 146/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 146/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử
