|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 146/2024/HS-ST Ngày: 31-10-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Hưng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trịnh Hồng Hải
Ông Trần Trung Nam
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyễn Viết Cường - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Tú - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 140/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 140/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T
(tên gọi khác: Không) sinh ngày 09 tháng 8 năm 2002 tại Đà Nẵng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ D, phường T, quận T, Tp Đà Nẵng. Hiện trú tại: K L, phường T, quận T, Tp Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ văn hóa: 11/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1975 và bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1973. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 21/11/2019 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/01/2022; Ngày 26/8/2024 bị Công an quận T, Tp Đà Nẵng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000 đồng. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2024. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị Mỹ L, sinh năm 1999. Nơi ĐKHKTT: Tổ 02, phường A, A, Gia Lai. Hiện trú tại: B T, phường C, quận T, Tp Đà Nẵng. Có mặt.
- Ông Lê Thanh H1, sinh năm 1973. Trú tại: K Đ, phường C, quận T, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1999, trú tại: Tổ D, phường T, quận T, Tp Đà Nẵng. Có mặt.
- Ông Nguyễn Văn C, trú tại: tổ A, thôn V, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06h30' ngày 27/6/2024, tại khu vực nhà trọ B T, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng do ông Lê Thanh H1 làm chủ sở hữu; Công an phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng tiến hành kiểm tra hành chính phòng trọ số 02 của dãy nhà trọ do Lê Thị Mỹ L thuê, thì phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy và thu giữ tại phía dưới tấm nệm đặt tại khu vực gác lửng của phòng trọ có 01 gói ni lông kích thước (8x4) cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu G1) và tại vị trí đầu giường một chai nhựa nhãn hiệu Sting có phần nắp gắn nỏ thủy tinh, bên trong nỏ thủy tinh có bám dính chất rắn màu vàng sẫm (niêm phong ký hiệu G2), một ống hút nhựa. Ngoài ra tại phòng trọ lúc này còn có Lê Thị Mỹ L là bạn gái của Nguyễn Văn T, nhưng L không biết việc Nguyễn Văn T cất giấu trái phép ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 526/KL-KTHS ngày 05/7/2024 của Phòng K2 Công an thành phố Đ kết luận: Tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu G1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu G1: 0,21 gam.
Chất rắn màu sẫm bám dính trong nỏ thủy tinh trong bì niêm phong ký hiệu G2 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng mẫu G2: 0,012 gam.
Như vậy, tổng số ma túy thu giữ trong vụ án là 0,222 gam ma túy loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn T khai nhận: Vào khoảng ngày 25/6/2024 hoặc ngày 26/6/2024 (T không nhớ rõ ngày cụ thể), do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T sử dụng điện thoại di động Iphone 11 Promax gắn sim số 0788.553.786 liên lạc qua số điện thoại 0906.395.xxx gặp "Anh Chương Điện Ngọc" là bạn bè ngoài xã hội của T để nhờ C mua hộ 500.000 đồng ma túy đá thì C đồng ý. Sau đó, có người thanh niên sử dụng số điện thoại lạ (không lưu trong danh bạ) gọi lại cho T giới thiệu là "người bên Chương đây" đồng thời nói T chạy đến cây xăng đường N, thành phố Đ, bỏ 500.000 đồng tiền mua ma túy vào trong một cái chai nhựa. Theo chỉ dẫn của người bán, T điều khiển xe mô tô hiệu Exciter BKS 43G1-018.32 đến địa điểm trên đặt tiền vào vỏ chai nhựa và để đối diện cây xăng đường N rồi rời đi, khoảng 30 phút sau, T quay lại địa điểm trên thì phát hiện tại đây có một chai nhựa, T mở ra xem thì thấy bên trong chai nhựa có 01 gói ma túy đá. T cầm gói ma túy đá rồi điều khiển xe quay trở về phòng trọ, trên đường đi Trí ghé qua cửa hàng Y ở đường H, thành phố Đà Nẵng (không rõ địa chỉ cụ thể) và tiệm T2 (không rõ địa chỉ) để mua nước ngọt, dụng cụ để sử dụng ma túy.
Sau khi trở về phòng trọ, trong phòng trọ lúc này chỉ có một mình T; T lấy ra một ít ma túy vừa mua để sử dụng, sau khi sử dụng xong, T cất số ma túy còn lại ở dưới nệm và bộ D sử dụng ma túy T để trên đầu chỗ T nằm rồi đi ngủ. Đến khoảng 01h00' ngày 27/6/2024, Lê Thị Mỹ L đi làm về rồi lên giường và ngủ cùng với T. Đến khoảng 06h30' ngày 27/6/2024, Công an phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng phối hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm vê Ma túy Công an quận T, thành phố Đà Nẵng tiến hành kiểm tra phòng trọ của L và T thì phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên. Ngoài ra Cơ quan Công an còn thu giữ của Nguyễn Văn T 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, số Imel: 352856110324265 bên trong có gắn sim số 0788553786; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XR màu đen số Imei 357337094260622; 01 xe mô tô hiệu Exciter BKS: 43G1-018.32, số khung: RLCE1S9407Y00817, số máy: 1S94-008.017; thu giữ của Lê Thị Mỹ L: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 15, số Imei: 352156547043665 bên trong có gắn sim số: 0785179152.
Qua thử test nước tiểu Nguyễn Văn T và Lê Thị Mỹ Linh dương tính với chất ma túy. Lê Thị Mỹ L khai nhận khoảng 24 giờ ngày 26/6/2024, L cùng với bạn tên L1 (không rõ nhân thân, lai lịch) có đến vũ trường P, Đà Nẵng và sử dụng ma túy. Khoảng 01 giờ sáng ngày 27/6/2024 thì L về phòng trọ nghỉ ngơi, đến 06 giờ sáng ngày 27/6/2024 thì Công an kiểm tra hành chính và phát hiện sự việc như trên. L không biết việc T tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy.
Kiểm tra các dữ liệu cuộc gọi đi, cuộc gọi đến, tin nhắn thông thường và các trang mạng xã hội bên trong điện thoại Iphone 11 Promax và Iphone XR thu giữ của Nguyễn Văn T xác định bên trong điện thoại Iphone 11 Promax có phát sinh nhiều cuộc gọi, trong đó chỉ có 01 cuộc gọi Nguyễn Văn T gọi cho số điện thoại 0906.395.xxx lưu tên "Anh Chương Điện N1" vào lúc 20 giờ 26 phút 56 giây ngày 25/6/2024 với thời lượng 35 giây. Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không phát hiện nội dung nào liên quan đến hoạt động mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy.
Từ lời khai của Nguyễn Văn T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T xác định chủ thuê bao 0906.395.295 vào lúc 20 giờ 26 phút 56 giây ngày 25/6/2024 có nhận 01 cuộc điện thoại của Nguyễn Văn T qua số 0788.553.786 với thời lượng 35 giây tên là Nguyễn Văn C, số căn cước công dân: [...], hiện trú tại tổ A, thôn V, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Qua xác minh tại địa phương nơi Nguyễn Văn C đăng ký thường trú là Công an xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam và tại nhà của Nguyễn Văn C: tổ A, thôn V, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam xác định Nguyễn Văn C đã bỏ nhà đi khỏi địa phương khoảng 10 năm nay, hiện nay C ở đâu làm gì địa phương và gia đình đều không biết.
Tiến hành cho nhận dạng qua ảnh, Nguyễn Văn T không nhận dạng được người tên Nguyễn Văn C qua ảnh.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội trên.
Xử lý tài sản tạm giữ:
- + 01 xe mô tô hiệu Exciter BKS: 43G1-018.32, số khung: RLCE1S9407Y00817, số máy: 1S94-008.017. Qua điều tra xác định xe mô tô hiệu Exciter BKS: 43G1-018.32 do anh Nguyễn Văn T1 là anh ruột của T đứng tên làm chủ sở hữu mua năm 2020. Anh T1 giao chiếc xe trên lại cho Nguyễn Văn T làm phương tiện đi lại, việc T sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy anh T1 không biết. Ngày 20/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho anh Nguyễn Văn T1.
- * Vật chứng:
- + Mẫu vật hoàn trả sau giám định ma túy là 02 (hai) bì niêm phong đều theo Quyết định trưng cầu giám định số 874/QĐ-ĐCSMT ngày 27/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, thành phố Đà Nẵng, có ký hiệu G1 và G2 có đóng dấu giáp lai của Phòng K2 Công an thành phố Đ.
- Thu giữ của Nguyễn Văn T:
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, số Imel: 352856110324265 bên trong có gắn sim số 0788553786.
- + 01 điện thoại di động hiệu Iphone XR màu đen số Imei 357337094260622.
- + 01 ống hút bằng nhựa.
- + 01 chai nhựa có chữ Sting.
- Thu giữ của Lê Thị Mỹ L:
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 15, số Imei: 352156547043665 bên trong có gắn sim số: 0785179152.
Tất cả các vật chứng trên đều chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê bảo quản chờ xử lý trong giai đoạn xét xử.
Tại bản cáo trạng số 126/CT- VKS ngày 07 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng thực hành quyền công tố Nhà nước giữ nguyên toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, áp dụng:
- - Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật hoàn trả sau giám định ma túy là 02 (hai) bì niêm phong đều theo Quyết định trưng cầu giám định số 874/QĐ-ĐCSMT ngày 27/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, thành phố Đà Nẵng, có ký hiệu G1 và G2 có đóng dấu giáp lai của Phòng K2 Công an thành phố Đ; 01 ống hút bằng nhựa; 01 chai nhựa có chữ Sting.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XR màu đen số Imei 357337094260622, tuy nhiên tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
- - Trả lại cho bà Lê Thị Mỹ L: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 15, số Imei: 352156547043665 bên trong có gắn sim số: 0785179152.
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, số Imel: 352856110324265 bên trong có gắn sim số 0788553786.
Bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã sai, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
- Quá trình điều tra, xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại phòng trọ số B, nhà trọ B T, phường C, quận T, Tp Đà Nẵng, Công an phường C, quận T, Tp Đà Nẵng phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận T, Tp Đà Nẵng bắt quả tang Nguyễn Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,222 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng.
Do đó hành vi của Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 126/CT- VKS ngày 07 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy:
Hành vi của bị cáo có tính chất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền trong việc quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo đủ khả năng nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy đang là tệ nạn của xã hội, là nguyên nhân của các tội phạm khác gây mất an ninh trật tự, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, nhưng bị cáo vẫn phạm tội.
Bị cáo T có nhân thân xấu: Ngày 21/11/2019 bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, Tp Đà Nẵng xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/01/2022; Ngày 26/8/2024 bị Công an quận T, Tp Đà Nẵng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 1.500.000 đồng. Do đó cần phải xét xử nghiêm khắc, hình phạt đối với bị cáo phải thỏa đáng và tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo để bị cáo có điều kiện cải tạo tu dưỡng để trở thành công dân có ích cho xã hội.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần được áp dụng cho bị cáo.
Từ những phân tích trên, xét lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê về tội danh là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về xử lý vật chứng:
- - Đối với: Mẫu vật hoàn trả sau giám định ma túy là 02 (hai) bì niêm phong đều theo Quyết định trưng cầu giám định số 874/QĐ-ĐCSMT ngày 27/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, thành phố Đà Nẵng, có ký hiệu G1 và G2 có đóng dấu giáp lai của Phòng K2 Công an thành phố Đ; 01 ống hút bằng nhựa; 01 chai nhựa có chữ Sting là vật chứng vụ án, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone XR màu đen số Imei 357337094260622, là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo, tuy nhiên tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 15, số Imei: 352156547043665 bên trong có gắn sim số: 0785179152, là tài sản của bà Lê Thị Mỹ L không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bà L.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, số Imel: 352856110324265 bên trong có gắn sim số 0788553786, bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy của đối tượng tên C nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
- - Đối với 01 xe mô tô hiệu Exciter BKS: 43G1-018.32, số khung: RLCE1S9407Y00817, số máy: 1S94-008.017. Qua điều tra xác định xe mô tô hiệu Exciter BKS: 43G1-018.32 do anh Nguyễn Văn T1 là anh ruột của T đứng tên làm chủ sở hữu mua năm 2020. Anh T1 giao chiếc xe trên lại cho Nguyễn Văn T làm phương tiện đi lại, việc T sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy anh T1 không biết. Ngày 20/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho anh Nguyễn Văn T1, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn T, Lê Thị Mỹ L, Công an quận T, thành phố Đà Nẵng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
Đối với người thanh niên tên C sử dụng số điện thoại 0906.395.xxx có hành vi mua giùm ma túy cho Nguyễn Văn T và người thanh niên gọi điện thoại cho Nguyễn Văn T để bán ma túy hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
Đối với Lê Thị Mỹ L ở cùng phòng trọ với Nguyễn Văn T, tuy nhiên Lê Thị Mỹ L không biết việc T cất giấu chất ma túy để sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không đề cập xử lý, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
Đối với ông Lê Thanh H1 là người cho Lê Thị Mỹ L thuê phòng trọ, tuy nhiên ông Hàng K biết việc T sử dụng phòng trọ trên vào việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T không đề cập xử lý, Hội đồng xét xử thấy phù hợp.
- Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên:
- - Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật hoàn trả sau giám định ma túy là 02 (hai) bì niêm phong đều theo Quyết định trưng cầu giám định số 874/QĐ-ĐCSMT ngày 27/6/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, thành phố Đà Nẵng, có ký hiệu G1 và G2 có đóng dấu tròn và có chữ ký của Phạm Đình Q, Dương Thành K1; 01 ống hút bằng nhựa; 01 chai nhựa có chữ Sting.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XR màu đen số Imei 357337094260622, tuy nhiên tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.
- - Trả lại cho bà Lê Thị Mỹ L: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 15, số Imei: 352156547043665 bên trong có gắn sim số: 0785179152.
- - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu vàng, số Imel: 352856110324265 bên trong có gắn sim số 0788553786.
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê).
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án” của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Ngọc Hưng |
Bản án số 146/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 146/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ma túy
