Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH XUYÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số:146/2024/HS-ST

Ngày 31 tháng 10 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Nữ Hương Huyền

Các Hội thẩm Nhân dân: Ông Nguyễn Quang Thái và bà Trần Thị Năm.

Thư ký phiên toà: Bà Khổng Thị Đức Hậu- Thư ký Toà án Nhân dân huyện Bình Xuyên.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 129/2024/HS-ST ngày 03 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 139/2024/HSST- QĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Văn T, sinh ngày 24/12/1994 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố T, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị H; vợ: Lưu Thị P, con: có 01 con sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Tại Bản án số 31/2016/HSST ngày 26/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Phạm Văn T 03 tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”; 01 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Tổng hợp chung cho cả hai tội là 01 năm 03 tháng tù tính từ ngày bắt tạm giam 18/02/2016. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2017, chấp hành xong án phí tháng 5/2015 (đã được xóa án tích).

Tại Quyết định số 13/QĐ ngày 14/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 06 tháng đối với Phạm Văn T (đã tạm đình chỉ theo Quyết định số 01/QĐ- CSGDBB ngày 18/02/2016 của cơ sở giáo dục T2 với lý do: Thường có quyết định khởi tố bị can, bắt tạm giam phục vụ điều tra.

Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 769/QĐ- XPHC ngày 30/11/2014 của Công an thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Phạm Văn T số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác (Thường chưa nộp phạt). Công an thành phố V không đôn đốc nộp phạt nên đã hết thời hiệu thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 777/QĐ- XPHC ngày 29/7/2015 của Công an thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Phạm Văn T số tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác (Thường chưa nộp phạt). Công an thành phố V không đôn đốc việc nộp phạt nên đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2024 cho đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn T là đối tượng nghiện ma túy. Ngày 25/6/2024 T đi chơi ở khu vực thị trấn V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc thì gặp 01 nam giới lạ mặt (T không biết tên, tuổi, địa chỉ) và hỏi mua của người này 02 viên ma túy “kẹo” màu xám giống hình lựu đạn với giá 500.000 đồng rồi cất giấu trong người khi nào có nhu cầu thì sử dụng. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 27/6/2024, T đi bộ ở khu vực thị trấn H, huyện B và đem theo ma túy đã mua được để tìm nơi sử dụng. Khi đi bộ đến đoạn đường dân sinh thuộc tổ dân phố K, thị trấn H, huyện B thì bị cơ quan điều tra Công an huyện B bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ tại lòng bàn tay phải của T 01 túi nylon dạng túi zíp bên trong có chứa 02 viên nén màu xám hình lựu đạn (được niêm phong ký hiệu A) và thu 70ml mẫu nước tiểu của Thường để tiến hành giám định.

Ngày 27/6/2024 tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn T không thu giữ tài liệu, đồ vật gì liên quan đến ma túy.

Tại kết luận giám định số 1896/KL- KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: “02 viên màu xám hình dáng lựu đạn của mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, loại MDMA có tổng khối lượng là 1,1025g. H1 lại sau giám định là 1,0355 gam mẫu và bao gói.

Ngày 04/7/2024, Phòng K Công an tỉnh V có văn bản số 1951/KLGĐ kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Ketamine trong mẫu nước tiểu thu của Phạm Văn T gửi giám định”.

Tại Cáo trạng số: 143/CT-VKSBX ngày 03/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

2

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù. Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 1,0355g ma túy hoàn lại sau giám định.

Bị cáo không bào chữa, tranh luận khác. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội nêu trên của bị cáo Phạm Văn T tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người chứng kiến về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Hồi 17 giờ 30 phút ngày 27/6/2024, tại đoạn đường dân sinh thuộc tổ dân phố K, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, tổ công tác công an huyện B bắt quả tang Phạm Văn T có hành vi tàng trữ 1,1025 gam ma túy MDMA để sử dụng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Văn T đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy hoặc thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, ......MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của

3

con người; gây ra một lớp người nghiện trong xã hội làm tác hại cho chính bản thân người nghiện và gia đình họ cũng như cho cộng đồng nói chung. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 05 năm tù nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.

Hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ là để thỏa mãn nhu cầu nghiện của bản thân. Hiện tại trên địa bàn huyện B các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Bị cáo là người có nhân thân xấu vì tại bản án số 31/2016/HSST ngày 26/7/2016 của Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt T 03 tháng tù về tội “ Bắt giữ người trái pháp luật”; 01 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Ngoài ra bị cáo còn 02 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm phạm sức khỏe của người khác” tuy không bị coi là tiền án, tiền sự nhưng thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã “Thành khẩn khai báo” nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo không có tài sản và nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Đối với người bán ma túy cho Phạm Văn T nhưng T không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh xử lý.

[6] Về vật chứng: Đối với 1,0355 gam ma túy MDMA cùng toàn bộ bao gói hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Văn T phải chịu theo quy định của pháp luật.

4

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 27/6/2024).

[3] Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 1,0355 gam ma túy MDMA và toàn bộ bao gói được niêm phong hoàn lại sau giám định.

(Tài sản có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/10/2024).

[4] Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Văn T phải chịu 300.000 đồng.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát huyện Bình Xuyên;
  • - Công an huyện Bình Xuyên;
  • - Trại tạm giam- CA Vĩnh Phúc;
  • - Chi cục thihành án huyện Bình Xuyên;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Nữ Hương Huyền

5

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Sái Văn Trọng

Nguyễn Thị Thúy Nga

Lê Nữ Hương Huyền

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 146/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 146/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ mt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger