|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 146/2024/HS-ST Ngày: 30 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Hoàng Long
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông La Văn Hợp, ông Lê Ngọc Sử.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Thanh Tuyền – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Trương Thanh T – Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
LÂM THỊ M, sinh năm 2003 tại Sóc Trăng; nơi đăng ký thường trú: Khóm W, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 00/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sơn Sà B, sinh năm 1978 và bà Lâm Thị M1, sinh năm 1977; bị cáo chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/7/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Lương Văn X, sinh năm 1959; trú tại: Ấp B, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (có đơn xin vắng mặt).
Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1959; trú tại: Ấp B, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 01 tháng 7 năm 2024, Lâm Thị M đi bộ từ phòng số 3 trong nhà nghỉ “Hạnh M2” do ông Nguyễn Văn T1 làm chủ tại ấp B, xã T, TP tỉnh Bình Phước đến quán nước của ông Lương Văn X gần đó để mua nước uống. Lúc này do không có tiền thanh toán tiền nhà nghỉ nên M đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản tại quán của ông X. Để thực hiện hành vi, khi gặp ông X thì M giả vờ xin đi nhờ nhà vệ sinh thì ông X đồng ý. Sau khi M đi xuống phía sau phòng bếp nhà của ông X thì M nhìn thấy trên tủ đựng chén, bát có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A15, màu xanh ngọc và trên bàn gần đó có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21S màu trắng đang sạc pin nên M đã lén lút lấy 02 điện thoại này cất giấu vào trong túi áo khoác sau đó đi về nhà nghỉ “Hạnh M2”. Sau khi thấy M đi về ông X đi xuống phòng bếp kiểm tra thì phát hiện bị mất tài sản nên đã đuổi theo M đến nhà nghỉ “Hạnh M2” đồng thời hô hoán mọi người đuổi theo để bắt giữ Mấp lại thì có ông Nguyễn Văn T1 cùng tham gia. Khi ông X, Trung đuổi đến phòng số 3 trong nhà nghỉ “Hạnh M2” thì thấy M ôm một túi xách bỏ chạy ra phía sau nhà nghỉ nên cả hai cùng đuổi theo Mấp khoảng 300 mét thì bắt giữ được M và kiểm tra trên người của M phát hiện 02 chiếc điện thoại di động đã bị mất của ông X. Sau đó Công an xã T, TP . đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Bản kết luận định giá số 42/KL-HĐĐGTS ngày 04/7/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TP Đ, tỉnh Bình Phước kết luận: “01 điện 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A15, màu xanh ngọc, dung lượng 256 GB, đã qua sử dụng, còn hoạt động tại thời điểm định giá có giá trị là 3.000.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21S màu trắng, đã qua sử dụng, còn hoạt động có giá trị là 500.000 đồng”.
Thu giữ đồ vật, tài liệu:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A15, màu xanh ngọc và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A21S màu trắng.
- + 01 áo khoác màu đen, đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lương Văn X đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên đề cập giải quyết.
Tại Bản cáo trạng số 140/CT-VKS ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Lâm Thị M về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước giữ quyền công tố trình bày quan điểm: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội gây thiệt hại không lớn. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lâm Thị M về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lâm Thị M mức án từ 06 đến 09 tháng tù.
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản hợp pháp của mình và không yêu cầu gì khác nên không đề nghị xem xét;
- - Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác màu đen, đã qua sử dụng.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã truy tố và không có ý kiến gì khác.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức hành vi của mình sai trái xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị hại và người làm chứng, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng vụ án và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do muốn có tiền tiêu xài, vào khoảng 10 giờ ngày 01 tháng 7 năm 2024, tại quán nước của ông Lương Văn X tại ấp B, xã T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước, Lâm Thị M lợi dụng sự sơ hở của ông X để lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A15, màu xanh ngọc và 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A21S màu trắng, với tổng giá trị tài sản là 3.500.000 đồng. Cáo trạng số 140/CT-VKS ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Lâm Thị M về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân, là khách thể được pháp luật bảo vệ.
[4] Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, bị cáo nhận thức được việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do muốn có tiền tiêu xài một cách bất chính nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bản thân bị cáo sống lang thang, không có nơi cư trú ổn định. Do đó, cần xét xử bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị hại trong đơn xin vắng mặt xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 cần xem xét cho bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo Lâm Thị M không có nghề nghiệp cũng như thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không xem xét áp dụng biện pháp phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản hợp pháp của mình và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước về tội danh, điều khoản áp dụng đối với bị cáo Lâm Thị M là có căn cứ nên được chấp nhận.
[9] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác màu đen, đã qua sử dụng.
[10] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lâm Thị M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
-
Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lâm Thị M 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/7/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác màu đen, đã qua sử dụng
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0002294 ngày 09/9/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước)
-
Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Lâm Thị M phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạ hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Hoàng Long |
Bản án số 146/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 146/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
