|
TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. HẢI CHÂU – TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 146/2024/HS-ST Ngày: 28/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Cúc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Thanh Trà
Ông Nguyễn Xuân Tùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Lê Viết Sĩ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 110/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2024/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
PHẠM THỊ T2, tên gọi khác: Không.
Sinh ngày: 20/10/1985, tại tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Không; Nơi ĐKHKTT: Thôn Á, xã T, huyện T, Quảng Trị; Chỗ ở: K C, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam. Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Phạm Đình T(c) và bà Trương Thị V (s); Chồng: Đặng Sỹ Ngọc H, sinh năm: 1986; Con: Đặng Khánh G, sinh năm: 2010 và Đặng Minh C, sinh năm: 2016.
Tiền án, tiền sự: Chưa
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 30.5.2024. Có mặt tại phiên toà.
- Người bị hại:
1/ Ông: Huỳnh Quang Đ, sinh ngày: 08/10/1979;
Bà: Trần Thị Hoàng O, sinh ngày: 11/7/1987;
Cùng địa chỉ: K C, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà: Lê Thị Xuân T1, sinh năm: 1971. Địa chỉ: Nhà số B L, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2/ Bà Trần Thị Lan K, sinh năm: 1968; Địa chỉ: Nhà số C Ông Í, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Thị T2 làm giúp việc nhà cho vợ chồng anh Huỳnh Quang Đ và chị Trần Thị Hoàng O tại nhà số nhà K Cô B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, từ ngày 09.01.2024 đến 24.4.2024.
Trong thời gian trên, chị O có để 6.200 USD và 7.700.000 đồng trong túi áo vest, đề trong tủ áo quần tại phòng ngủ của chị O. T2 làm giúp việc nhà và ở lại nhà chị O nên biêt có đề tiên trong tủ và vị trí cất chìa khóa tủ. Lợi dụng lúc vợ chồng chị O không có ở nhà, T2 đã 02 lần lén lấy chìa khóa tủ mở và trộm số tiền trên, cụ thể:
- Lần 1: Sáng ngày 15.4.2024, T2 lấy trộm 2000 USD. Ngay sau đó, T2 bán 1000 USD cho Doanh nghiệp tư nhân hiệu vàng Kim Dung T1 - tại C Ông Í, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng, do chị Lê Thị Xuân T1 làm chủ sở hữu, được 25.000.000 đồng. Chị T1 sử dụng tài khoản của chồng là anh Trần Hữu A, số D - Ngân hàng S, - PGD C, đề chuyền tiền mua USD cho T2 theo tài khoản số 9963444757 tại Ngân hàng V1 của T2.
Ngày 17.4.2024, T2 mang 1000 USD còn lại đến bán cho Doanh nghiệp tư nhân hiệu vàng Kim D - 342 Ông Í, phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng, do chị Trần Thị Lan K làm chủ sở hữu, được 25.000.000 đồng. Đồng thời, T2 đưa thêm 6.000.000 đồng cho chị K1 đề nhờ chuyển tổng số tiền 31.000.000 đồng vào tài khoản trên của T2. Chị K dùng tài khoản số [...] - Ngân hàng TMCP N1, chi nhánh Đ2 (V1) chuyển tiền cho T2.
Lần 2: Sáng ngày 19.4.2024, T2 lấy trộm 4200 USD và 7.700.000 đồng. Ngay sau đó, T2 bán 2000 USD tại tiệm V2, lấy số tiền 51.280.000 đồng. Chị K đã dùng tài khoản nêu trên chuyển vào tài khoản của T2.
Sáng ngày 21.4.2024, T2 tiếp tục bán 2000 USD tại tiệm V2, lây số tiền 51.400.000 đồng. Chị K dùng tài khoản số 0905169540 - Ngân hàng TMCP S1 (S2) để chuyển tiền cho T2.
Toàn bộ số tiền đã bán USD như trên, T2 đã nộp vào tài khoản trên mạng internet để đánh bạc và đã thua hết.
Đối với số tiền 7.700.000 đồng và 200 USD còn lại, T2 cất giấu trong phòng ngủ của chị O, ngày 22.4.2024 chị O tìm thấy và giao nộp cho Công an phường H.
Khoảng 08 giờ ngày 22.4.2024, sợ gia đình chị O phát hiện việc trộm căp nên T2 đã đốt tủ áo quân nhằm tạo hiện trường cháy để chị O nghĩ số tiền trên đã bị cháy. Sau đó, T2 giả vờ là người phát hiện vụ cháy và hô hoán cho gia đình, người dân, Công an phường H 1 đến dập tắt đám cháy. Tài sản bị cháy gồm một phần tủ, một số áo quần trong tủ.
Vật chứng thu giữ:
- Lịch sử giao dịch tài khoản số 9963444757 tại Ngân hàng V1 của Phạm Thị T2, in ra 08 trang giấy A4. Có giao dịch nhận tiền đúng như lời khai của T2, của chị Lê Thị Xuân T1 và chị Trần Thị Lan K.
- Hồ sơ thông tin về chủ tài khoản và lịch sử giao dịch của tài khoản số [...] mở tại Ngân hàng S - PGD C, đứng tên Trần Hữu A. Có giao dịch chuyển tiền đúng như lời khai của chị Lê Thị Xuân T1.
- Lịch sử giao dịch tài khoản số 0905169540 - Ngân hàng TMCP S1 (S2), Trần Thị Lan K. Có giao dịch chuyển tiền đúng như lời khai của chị K.
- 7.700.000 đồng và 200 USD do chị O giao nộp.
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO A73, màu hồng, kèm theo sim số 0963444757 và 50.000.000 đồng (do T2 tự nguyện giao nộp để bồi thường cho bị hại).
Theo Công văn số 576/ĐAN-TH&KSNB ngày 14.5.2024 của Ngân hàng N2 - Chi nhánh Đ2: Theo thông tin công bố tại website Ngân hàng N2, tỷ giá trung tâm của Đ3 (V3) với Đô la Mỹ (USD) áp dụng trong các ngày: 15.4.2024 là 1 USD = 24.096 VND, ngày 19.4.2024 là 1 USD = 24.260 VND (bút lục: 55). Như vậy, số tiền T2 đã chiếm đoạt là:
- Lần 1 (ngày 15.4.2024): 2000 USD x 24.096 VND = 49.920.000 đồng.
- Lần 2 (ngày 19.4.2024): 4.200 USD x 24.260 VND = 101.892.000 đồng.
Tổng số tiền chiếm đoạt là: 49.920.000 đồng + 101.892.000 đồng + 7.700.000 đồng = 159.512.000 đồng.
Theo Kết luận định giá tài sản số 44 ngày 10/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS, UBDN quận H, kết luận: Phần thiệt hại của tủ quần áo bằng gỗ ép do bị đốt là 760.000 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo Phạm Thị T2 đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như trên. Lời khai nhận của bị can phù hợp với lời khai bị hại, người liên quan, vật chứng thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đối với hành vi đốt làm tủ quần áo cháy, gây thiệt hại 760.000 đồng, chưa đủ xử lý trách nhiệm hình sự nên Công an quận H đã xử phạt hành chính. Đối với việc T2 khai số tiền trộm cấp đã nạp vào các tài khoản trên mạng để chơi đánh bài và thua hết. T2 không biết chủ các tài khoản này, chỉ nạp theo yêu cầu của người chơi trên mạng. Qua xác minh, T2 đã chuyển vào các tài khoản gồm:
- Tài khoản 000008632854 - Ngân hàng S3, tên NGUYEN THI HAO. Đã lấy lời khai của chị Nguyễn Thị H1 (sinh năm: 1981; trú: X. T, H. K, T. H), nhưng chị H1 không mở và không biết số tài khoản này.
- Tài khoản số 0764653602 - Ngân hàng TMCP V4, tên MAI HOANG THỊ. Đã lấy lời khai anh Mai Hoàng T3 (sinh năm: 1986; trú: Áp Phương T4, X. P, H. P, T. H), nhưng anh T3 không mở và không biết số tài khoản này.
- Tài khoản 1027798924 - Ngân hàng TMCP N1, tên HOANG MINH HIEU. Xác minh thông tin anh Hoàng Minh H2 thì anh H2 không có mặt ở địa phương, không biết làm gì, ở đâu.
- Tài khoản 1032899589 - Ngân hàng TMCP N1, tên VO THANH NHAN. Xác minh thông tin anh Võ Thành N thì anh N không có mặt ở địa phương, không biết làm gì, ở đâu.
- Tài khoản số 9963987614 - Ngân hàng TMCP K2, tên DINH NGUYEN THANH DUOC. Xác minh thông tin anh Đinh Nguyễn Thành Đ1 nhưng anh Đ1 không có mặt tại địa phương.
Về xử lý vật chứng:
- Chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu bảo quản, chờ xử lý:
- 01 điện thoại di động hiệu OPPO A73, màu hồng, kèm theo sim số 0963444757;
- Số tiền 50.000.000 đồng, do bị cáo T2 tự nguyện giao nộp để bồi thường cho bị hại.
- Về dân sự: Vợ chồng chị Trần Thị Hoàng O đã nhận lại 7.700.000đồng và 200 USD (theo thông tin công bố trên website Ngân hàng N2 chi nhánh thành phố Đ2, tỷ giá trung tâm của Đ3 (V3) với đô la Mỹ (USD) áp dụng trong ngày 19/4/2024: 1USD = 24.260VNĐ. Cụ thể: 200USD x 24.260 = 4.852.000 đồng). Bị cáo Phạm Thị T2 đã nộp 50.000.000 đồng để bồi thường cho người bị hại theo chứng từ giao dịch nộp tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) vào tài khoản Công an quận H số 05270279000000010 ngày 27/5/2024 tại ngân hàng A1 địa chỉ E L, thành phố Đà Nẵng nhưng vợ chồng anh Đ, chị O yêu cầu bồi thường đủ số tiền đã chiếm đoạt nên chưa đồng ý nhận số tiền này.
Số tiền còn lại bị cáo Phạm Thị T2 phải tiếp tục bồi thường cho người bị hại là 146.960.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 112/CT-VKS ngày 30/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Phạm Thị T2 về tội “Trộm cắp tài sản” quy định theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị HĐXX căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Phạm Thị T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản” và:
Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, p khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Phạm Thị T2 mức án từ 3 (ba) năm đến 3 (ba) năm 6 (sáu) tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phạm Thị T2 phải bồi thường cho người bị hại tổng số tiền 159.512.000 đồng.
Vợ chồng chị Trần Thị Hoàng O đã nhận lại 7.700.000đồng và 200 USD (theo thông tin công bố trên website Ngân hàng N2 chi nhánh thành phố Đ2, tỷ giá trung tâm của Đ3 (V3) với đô la Mỹ (USD) áp dụng trong ngày 19/4/2024: 1USD = 24.260VNĐ. Cụ thể: 200USD x 24.260 = 4.852.000 đồng). Bị cáo Phạm Thị T2 đã nộp 50.000.000 đồng để bồi thường cho người bị hại theo chứng từ giao dịch nộp tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) vào tài khoản Công an quận H số 05270279000000010 ngày 27/5/2024 tại ngân hàng A1 địa chỉ E L, thành phố Đà Nẵng nhưng vợ chồng anh Đ, chị O yêu cầu bồi thường đủ số tiền đã chiếm đoạt nên chưa đồng ý nhận số tiền này. Số tiền còn lại bị cáo Phạm Thị T2 phải tiếp tục bồi thường cho người bị hại là 146.960.000 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý các vật chứng trong vụ án, cụ thể như sau:
- Quy trữ số tiền 50.000.000đồng bị cáo Phạm Thị T2 đã nộp để bồi thường cho người bị hại theo chứng từ giao dịch nộp tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) vào tài khoản Công an quận H số 05270279000000010 ngày 27/5/2024 tại ngân hàng A1 hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu) để đảm bảo thi hành án.
- Đề nghị HĐXX tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A73, màu hồng, phiên bản Kernel 4.4.22-G201712050117 (kèm 01 sim 0963444757) thu giữ của bị cáo Phạm Thị T2, bị cáo sử dụng điện thoại để thực hiện hành vi đánh bạc qua mạng.
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu).
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Thị T2 cũng đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, rất ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đã có lời khai tại hồ sơ vụ án. Qua đối chiếu lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác cũng như diễn biến lời khai của bị cáo tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát quận H, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Phạm Thị T2 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Do cần tiền để chơi đánh bạc trên mạng internet, Phạm Thị T2 lợi dụng là người làm giúp việc nhà và ở lại tại nhà vợ chồng anh Huỳnh Quang Đ và chị Trần Thị Hoàng O - tại nhà K Cô B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. T2 đã 02 lần trộm cắp tiền của anh Đ, chị O, gồm: Lần 1: Ngày 15.4.2024, trộm 49.920.000 đồng; lần 2: Ngày 19.4.2024, trộm 109.592.000 đồng. Tổng trị giá tài sản T2 đã chiếm đoạt là 159.512.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội nên đối với bị cáo cần phải xử phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét về những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo thì thấy:
- Bị cáo Phạm Thị T2 là người chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên; có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm theo điểm g, p khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Thị T2 khai báo thành khẩn và có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, khắc phục một phần hậu quả, tự nguyện nộp lại 50.000.000 đồng để bồi thường thiệt hại, mẹ ruột là bà Trương Thị V là thương binh hạng 4/4. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.
- Đối với hành vi T2 khai dùng tiền trộm cắp để đánh bạc trên mạng internet, đến nay chỉ có duy nhất lời khai của T2, chưa xác định được người đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc, hình thức đánh bạc cụ thể nên Cơ quan CSĐT Công an quận H tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau là có căn cứ.
- Đối với chị Trần Thị Lan K và Lê Thị Xuân T1, đã mua USD do T2 bán nhưng không biết là do T2 trộm cắp mà có nên Cơ quan CSĐT Công an quận H không xử lý là có căn cứ. Riêng hành vi mua trái phép ngoại tệ của K và T1 đã bị Chủ tịch UBND quận H xử phạt hành chính là có căn cứ.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phạm Thị T2 phải bồi thường cho người bị hại tổng số tiền 159.512.000 đồng.
Vợ chồng chị Trần Thị Hoàng O đã nhận lại 7.700.000đồng và 200 USD (theo thông tin công bố trên website Ngân hàng N2 chi nhánh thành phố Đ2, tỷ giá trung tâm của Đ3 (V3) với đô la Mỹ (USD) áp dụng trong ngày 19/4/2024: 1USD = 24.260VNĐ. Cụ thể: 200USD x 24.260 = 4.852.000 đồng). Bị cáo Phạm Thị T2 đã nộp 50.000.000 đồng để bồi thường cho người bị hại theo chứng từ giao dịch nộp tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) vào tài khoản Công an quận H số 05270279000000010 ngày 27/5/2024 tại ngân hàng A1 địa chỉ E L, thành phố Đà Nẵng nhưng vợ chồng anh Đ, chị O yêu cầu bồi thường đủ số tiền đã chiếm đoạt nên chưa đồng ý nhận số tiền này. Bị cáo Phạm Thị T2 đã bồi thường số tiền 12.552.000 đồng (7.700.000đồng và 200 USD). Số tiền còn lại bị cáo Phạm Thị T2 phải tiếp tục bồi thường cho người bị hại là 146.960.000 đồng.
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý các vật chứng trong vụ án, cụ thể như sau:
- Tiếp tục quy trữ số tiền 50.000.000đồng bị cáo Phạm Thị T2 đã nộp bồi thường cho người bị hại theo chứng từ giao dịch nộp tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) vào tài khoản Công an quận H số 05270279000000010 ngày 27/5/2024 tại ngân hàng A1 hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu) để đảm bảo thi hành án.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A73, màu hồng, phiên bản Kernel 4.4.22-G201712050117 (kèm 01 sim 0963444757) thu giữ của bị cáo Phạm Thị T2, bị cáo sử dụng điện thoại để thực hiện hành vi đánh bạc qua mạng.
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu).
[7] Án phí:
Án phí hình sự sơ thẩm: 200.000 đồng bị cáo Phạm Thị T2 phải chịu.
Án phí dân sự sơ thẩm về bồi thường thiệt hại: 7.348.000đồng bị cáo Phạm Thị T2 phải chịu.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điềm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, p khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị T2 3 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/5/2024.
-
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585 của Bộ luật dân sự;
Buộc bị cáo Phạm Thị T2 phải bồi thường cho người bị hại tổng số tiền 159.512.000 đồng (một trăm năm mươi chín triệu năm trăm mười hai ngàn đồng)
Đã bồi thường 12.552.000 đồng (7.700.000đồng và 200 USD). Số tiền còn lại bị cáo Phạm Thị T2 phải tiếp tục bồi thường cho người bị hại là 146.960.000 đồng (Một trăm bốn mươi sáu triệu chín trăm sáu mươi ngàn đồng)
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý các vật chứng trong vụ án, cụ thể như sau:
- Tiếp tục quy trữ số tiền 50.000.000đồng bị cáo Phạm Thị T2 đã nộp bồi thường cho người bị hại theo chứng từ giao dịch nộp tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) vào tài khoản Công an quận H số 05270279000000010 ngày 27/5/2024 tại ngân hàng A1 hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu) để đảm bảo thi hành án.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A73, màu hồng, phiên bản Kernel 4.4.22-G201712050117 (kèm 01 sim 0963444757) thu giữ của bị cáo Phạm Thị T2, bị cáo sử dụng điện thoại để thực hiện hành vi đánh bạc qua mạng.
(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 27 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu).
-
Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án” của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Phạm Thị T2 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Phạm Thị T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về bồi thường thiệt hại: 7.348.000đồng (Bảy triệu ba trăm bốn mươi tám ngàn đồng)
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 28/9/2024). Riêng bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao (hoặc niêm yết) bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Minh C1 |
Bản án số 146/2024/HS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 146/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, TP ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
