|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH LONG AN Bản án số: 146/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26-9-2024 V/v “tranh chấp ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Võ Thị Minh Hiệp
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Trường Tam
- Ông Trần Minh Lý
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Chánh Nhật, Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72/2024/TLST–HNGĐ, ngày 27 tháng 02 năm 2024 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2024/QĐXX-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn D, sinh năm 1976. Địa chỉ: ấp D, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Bà Đặng Thị H, sinh năm 1984. Địa chỉ: ấp K, xã M, huyện C, tỉnh Long An.
(Các đương sự vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Phạm Văn D trình bày: Ông và bà Đặng Thị H tổ chức lễ cưới vào năm 2007, tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 04/8/2008 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Long An. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc chỉ được 01 năm, đến năm giữa năm 2008 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông bà không đồng quan điểm sống, tính cách nên thường xảy ra cãi nhau, đến tháng 8/2008 bà H đem con về bên mẹ ruột của bà H sống và vợ chồng sống ly thân từ đó. Trong thời gian ly thân, vợ chồng không gặp hay liên lạc nhau. Nay ông thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng nghiêm trọng, cuộc sống chung không còn nên ông yêu cầu ly hôn với bà H. Về con chung: Ông và bà H có 01 con chung là Phạm Văn Duy M, sinh ngày 17/7/2008, hiện con đang sống với bà H. Khi ly hôn, bà H sẽ trực tiếp nuôi con chung, ông không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết
Bị đơn bà Đặng Thị H đã được Tòa án cấp, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Thẩm quyền của Tòa án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nơi cư trú và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, xét vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An và quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp ly hôn căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét nguyên đơn ông Phạm Văn D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bị đơn bà Đặng Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[3] Quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Văn D và bà Đặng Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Long An vào năm 2008, đúng với quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Ông D khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà H do trong quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn và không còn sống chung từ tháng 8 năm 2008. Tòa án thụ lý vụ án và cấp, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên hòa giải vụ án nhằm tạo điều kiện cho ông D và bà H tìm biện pháp để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng nhưng bà H vắng mặt không có lý do và cũng không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của ông D. Còn ông D kiên quyết ly hôn với bà H. Từ đó, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa ông D và bà H đã trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông D đối với bà H.
[4] Nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Ông D và bà H có 01 người con chung là Phạm Văn Duy M, sinh ngày 17/7/2008, hiện con đang sống với bà H. Khi ly hôn, ông D giao con cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, hiện con chung đang sống với bà H, được bà H chăm sóc và có cuộc sống ổn định, đồng thời bà H cũng không phản đối về việc ông D giao con cho bà H trực tiếp nuôi. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử giao cho bà H được quyền trực tiếp nuôi con chung là Phạm Văn Duy M. Về cấp dưỡng nuôi con, bà H không có văn bản nêu ý kiến, yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
[5] Tài sản chung, nợ chung: Ông D không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn bà H không có văn bản trình bày ý kiến về vấn đề này. Do đó, Hội đồng xét xử không xét.
[6] Án phí: Ông D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 các Điều 35, 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn ông Phạm Văn D đối với bị đơn bà Đặng Thị H.
Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa ông Phạm Văn D và bà Đặng Thị H.
Về nuôi con chung: Giao cho bà Đặng Thị H trực tiếp nuôi con chung là Phạm Văn Duy M, sinh ngày 17/7/2008.
Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về án phí: Ông Phạm Văn D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà ông D đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011101 ngày 23/2/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, ông D đã nộp đủ tiền án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Thị Minh Hiệp |
4
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
5
6
Bản án số 146/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 146/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn giữa ông D với bà H
