Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 146/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17/9/2024

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Liêu Văn Lộc;
  2. Bà Mai Thị Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 239/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 264/2024/QĐXX-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 247/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Bé S, sinh năm 1977; (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
  2. Nơi cư trú: tổ A, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang.

    SĐT: 0369.479.xxx

  3. Bị đơn: Bà Nguyễn Thi T, sinh năm 1971; (vắng mặt)
  4. Nơi đăng ký HKTT: tổ A, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang. SĐT: 0385.862.xxx

    Tạm trú: tổ B, ấp A, xã L, huyện T, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn ông Nguyễn Văn Bé S trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: ông và bà Nguyễn Thị T xây dựng hôn nhân trên cơ sở mai mối, được gia đình hai bên tổ chức đám cưới năm 1999, đăng ký kết hôn ngày 23/12/2002 tại Ủy ban nhân dân xã V. Sau khi đám cưới, bà T vợ ông về làm dâu và sống bên gia đình chồng, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nhưng ông vẫn chịu đựng bỏ qua để níu kéo hôn nhân. Đến tháng 4/2023 thì bà T bỏ về cha mẹ ruột sống cho đến nay, đó cũng là thời gian ly thân của ông và bà T. Bà T tự động bỏ nhà đi, ông đã điện thoại liên lạc nhiều lần nhưng bà T1 không bắt máy, né tránh ông. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu ly hôn với bà T.

- Về quan hệ con chung: có 01 con chung: Nguyễn Văn T2, sinh ngày 11/02/2002, đã chết ngày 18/10/2020 theo giấy chứng tử số 16 ngày 01/3/2021, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Toà án đã nhiều lần triệu tập bị đơn bà Nguyễn Thị T để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, cũng như tham gia phiên toà nhưng bà T đều vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Toà án đã tiến hành các thủ tục xác minh, lấy lời khai bị đơn tại nơi cư trú nhưng bà T không có mặt ở nhà khi cán bộ Toà án đến, nên Toà án không lấy được lời khai của bị đơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng.

+ Về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Văn Bé S. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: đề nghị không đặt ra xem xét. Về án phí: ông Bé S phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: nguyên đơn ông Nguyễn Văn Bé S khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn bà Nguyễn Thị T, bà T hiện có nơi cư trú tại: tổ A, ấp V, xã V, huyện C, tỉnh An Giang, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án về tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:

Ngày 29/8/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Văn Bé S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị đơn bà Nguyễn Thị T đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn B Sáu thấy:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Theo nguyên đơn ông Bé S trình bày thì ông và bị đơn bà Nguyễn Thi T do mai mối tiến đến hôn nhân, được gia đình hai bên tổ chức đám cưới năm 1999, đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Sau kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nhưng ông vẫn chịu đựng bỏ qua để níu kéo hôn nhân. Đến tháng 4/2023 thì bà T tự động bỏ nhà đi, ông đã điện thoại liên lạc nhiều lần nhưng bà T không bắt máy, né tránh ông.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần mở phiên hoà giải nhằm tạo điều kiện để ông Bé S và bà T hàn gắn tình cảm, nhưng ông Bé S vẫn kiên quyết ly hôn, bà T được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, điều này chứng tỏ bà T không có nguyện vọng đoàn tụ với ông Bé S. Ông Bé S và bà T đã ly thân từ 4/2023 đến nay, nhưng ông và bà vẫn không hàn gắn tình cảm lại được.

Tất cả điều này cho thấy hôn nhân của ông B S và bà T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Bé S.

[2.2] Về quan hệ con chung: có 01 con chung: Nguyễn Văn T2, sinh ngày 11/02/2002, đã chết ngày 18/10/2020 theo giấy chứng tử số 16 ngày 01/3/2021, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: theo ông B S trình bày vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

[3] Về án phí: Ông Bé S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0004793 ngày 19/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Bé S.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn Bé S được ly hôn với bà Nguyễn Thị T.
  2. Về quan hệ con chung: có 01 con chung: Nguyễn Văn T2, sinh ngày 11/02/2002, đã chết ngày 18/10/2020 theo giấy chứng tử số 16 ngày 01/3/2021, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
  4. Về án phí: Ông Nguyễn Văn Bé S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0004793 ngày 19/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
  5. Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Bé S và bà Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Vĩnh Hanh;
  • - Phòng KTNV& THA;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Kim Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 146/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 146/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger