|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU TỈNH GIA LAI Bản án số: 146/2024/HSST Ngày: 30/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: bà Nguyễn Thị Xuân Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Bá Lý.
- Bà Trần Thị Ánh Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Thy Thy - Thư ký Tòa án, Tòa án Nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Đào Anh Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 30/7/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 138/2024/HSST ngày 28/6/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2024/QĐXXST – HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
BÙI VĂN T (tên gọi khác: Bé).
Giới tính: N - Sinh năm 1995 tại Gia Lai. CCCD: [...].
Nơi cư trú: thôn F, xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Cha: Bùi Văn Q; sinh năm: 1964.
Mẹ: Trà Thị H - Sinh năm 1965. Hiện trú tại thôn F, xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai.
Bị cáo có 04 em chị em ruột (lớn nhất sinh năm 1982 và nhỏ nhất sinh năm 1995).
Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án: Tại Bản án sơ thẩm số 122/2017/HSST ngày 06/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, xét xử tuyên phạt 07 năm tù, về tội: “Cố ý gây thương tích” (theo khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009). Chấp hành án tại Trại giam G. Ngày 05/6/2023, chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự: Không.
Bị cáo Bùi Văn T bị tạm giữ từ ngày 18/01/2024, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ, Công an T2, tỉnh Gia Lai, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Bùi Văn Q, sinh năm: 1964.
Địa chỉ: Thôn F, xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn T sử dụng chất ma túy từ khoảng thời gian tháng 6/2023. Do nghề nghiệp không ổn định, khó khăn về mặt kinh tế nên T đã nảy sinh ý định bán ma tuý để kiếm lời. Qua mối quan hệ xã hội, T có số điện thoại với một người thanh niên tên B (không rõ nhân thân, lai lịch). Vào khoảng 12 giờ ngày 17/01/2024, T gọi điện thoại hỏi mua của B 01 bì nilon chứa ma tuý loại Methamphetamine với giá 5.000.000 đồng, B đồng ý và hẹn giao ma túy cho T tại đầu đường vào nhà T ở Thôn F, xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, B gọi điện nói T đi ra đầu đường để lấy ma túy; khi ra, T thấy B ngồi trong xe taxi (không xác định được hãng xe, biển số xe), T đến đưa tiền cho B, rồi Bi ném 01 túi nilon xuống đất để T lấy. Sau khi mua được ma tuý, T mang vào nhà mở ra thấy có 01 túi ma túy loại Methamphetamine, 01 cân tiểu ly và một số túi nilon dạng kít; T bỏ vào trong hộp kim loại màu đỏ rồi cất giấu trong góc nhà tắm. Đến 21 giờ cùng ngày, tài khoản trên mạng xã hội Facebook là “Then ÊbAn” gọi điện qua M cho T tự xưng tên H1 (không xác định được nhân thân, lai lịch) có hỏi mua 300.000 đồng ma túy loại Methamphetamine, T đồng ý và lấy số ma túy đã mua phân chia ra 01 gói nhỏ rồi bỏ vào vỏ gói thuốc lá. Sau đó, T ra trước nhà ném gói thuốc có chứa ma túy qua hàng rào ra ngoài đường cho H1, H1 lấy ma túy xong thì bỏ tiền vào vỏ gói thuốc lá và ném vào lại trong sân nhà cho T. Đến 06 giờ ngày 18/01/2024, T dùng quẹt gas, kéo và ống hút nhựa phân chia số ma tuý đã còn lại thành 15 gói nilon và 01 túi nilon lớn; phần còn lại T để lại trong 01 túi nilon với mục đích để bán. Sau đó, T để 15 gói nilon và 02 túi nilon ma túy đã phân chia vào hộp nhựa màu xanh có in dòng chữ XYLITOL rồi để tại góc nhà tắm; đến khoảng 13 giờ ngày 18/01/2024, T đã lấy ra 01 túi nilon để vào áo lạnh treo trong phòng ngủ, để ai hỏi mua thì bán. Khoảng 14 giờ ngày 18/01/2024, Võ Thị Diễm L (sinh năm 1995, trú tại Tổ A, phường C, thành phố P; là bạn của T) đến nhà của T chơi. Đến 15 giờ cùng ngày, khi T và L đang ở tại nhà Thôn F, xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai, thì lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma tuý - Công an thành phố T2 phối hợp với Công an xã A kiểm tra, đã phát hiện và bắt quả tang đối với Bùi Văn T cùng vật chứng, gồm: 01 áo lạnh màu đen bên trong túi có 01 túi nilon bên trong chứa chất màu trắng dạng tinh thể (đã được niêm phong theo quy định ghi số 1), 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A54 màu xanh kèm sim số; 01 hộp kim loại màu đỏ kích thước (17x8,5x10)cm bên trong có 01 hộp nhựa màu xanh có in dòng chữ XYLITOL chứa 01 túi nilon chứa chất màu trắng dạng tinh thể và 15 gói nilon bên trong đều chứa chất màu trắng dạng tinh thể (đã được niêm phong theo quy định ghi số 2); 01 kéo bằng kim loại; 01 bật lửa; 03 đoạn ống nhựa dạng ống hút; 13 túi nilon dạng kít; 01 cân tiểu ly; 300.000 đồng tiền Ngân hàng N1.
Qua giám định, tại bản kết luận giám định số 152 ngày 26/01/2024 của phòng K Công an tỉnh G, kết luận: “Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01(một) túi nilon, được niêm phong trong bì công văn, ghi “Số 1” là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,5149gam. Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01(một) túi nilon, được niêm phong trong bì công văn, ghi “Số 2” là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 6,5650gam. Chất màu trắng dạng tinh thể trong 15(mười lăm) gói nilon, được niêm phong trong bì công văn, ghi “Số 2” là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,5007gam”.
Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A54 màu xanh kèm sim số là của T và T đã sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy; 01 hộp kim loại màu đỏ kích thước (17x8,5x10)cm, 01 hộp nhựa màu xanh có in dòng chữ XYLITOL; 01 kéo bằng kim loại; 01 bật lửa; 03 đoạn ống nhựa dạng ống hút; 13 túi nilon dạng kít; 01 cân tiểu ly và 01 áo lạnh màu đen là của T, đều là dụng cụ để T phân chia và cất giấu ma tuý; số tiền 300.000 đồng tiền Ngân hàng N1 là tiền do T bán ma túy cho H1 có được (BL số 20-21, 39-50).
Vật chứng của vụ án, gồm:
- + Chất ma túy còn lại sau giám định trong 02 bì công văn ghi số 152/PC09 ngày 26/01/2024, có dấu niêm phong của phòng K - Công an tỉnh G.
- + 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A54 màu xanh kèm sim số.
- + 01 hộp kim loại màu đỏ kích thước (17x8,5x10)cm; 01 hộp nhựa màu xanh có in dòng chữ XYLITOL; 01 kéo bằng kim loại; 01 bật lửa; 03 đoạn ống nhựa dạng ống hút; 13 túi nilon dạng kít; 01 cân tiểu ly và 01 áo lạnh màu đen.
- + 300.000 đồng tiền Ngân hàng N1.
Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về bản kết luận giám định số 152 ngày 26/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh G nói trên.
Tại bản cáo trạng số 157/CT- VKS ngày 28/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân TP . Pleiku đã truy tố đối với bị cáo Bùi Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm i và q khoản 2 Điều 251BLHS năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về hành vi của bị cáo Bùi Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy”
- - Áp dụng điểm i và q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Văn T mức án từ 10 năm 6 tháng đến 11 năm tù.
- - Hình phạt bổ sung: Không phạt bổ sung đối với bị cáo.
- * Căn cứ khoản 2 Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS;
- - Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì niêm phong ghi số 152/PC09 ngày 26/01/2024 đã được niêm phong của Phòng K công an tỉnh G.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 Hộp kim loại màu đỏ kích thước (17x8,5x10)cm; 01 hộp nhựa màu xanh có in dòng chữ XYLITOL; 01 kéo bằng kim loại; 01 bật lửa; 03 đoạn ống nhựa dạng ống hút; 13 túi nilon dạng kít; 01 cân tiểu ly và 01 áo lạnh màu đen.
- - Tịch thu sung công quỹ 300.000đ tiền Ngân hàng N1.
- - Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động hiệu Oppo A54 màu xanh kèm theo sim số.
Buộc bị cáo Bùi Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Bùi Văn T tại phiên tòa ngày hôm nay hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ, các tài liệu đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định: Vào khoảng 12 giờ ngày 17/01/2024 tại khu vực đường thuộc Thôn F, xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai, Bùi Văn T đã mua 01 túi ma túy loại Methamphetamine, 01 cân tiểu ly và một số túi nilon dạng kít của đối tượng tên B (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 5.000.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, T đã phân chia thành 15 gói nilon và 02 túi nilon rồi bỏ vào trong hộp kim loại màu đỏ cất giấu trong góc nhà tắm với mục đích để bán. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày tại nhà của T, T đã bán cho người nam thanh niên tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 gói ma túy (loại Methamphetamine) với giá 300.000 đồng và có lấy 01 túi nilon để trong túi áo lạnh, để có ai hỏi mua thì bán. Đến 15 giờ ngày 18/01/2024, khi T đang ở nhà tại Thôn F, xã A, thành phố P thì bị bắt quả tang cùng vật chứng, gồm: 01 áo lạnh màu đen, 01 túi nilon bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A54 màu xanh kèm sim số; 01 hộp kim loại màu đỏ kích thước (17x8,5x10)cm bên trong có 01 hộp nhựa màu xanh có in dòng chữ XYLITOL chứa 01 túi nilon chứa chất màu trắng dạng tinh thể và 15 gói nilon bên trong đều chứa chất màu trắng dạng tinh thể; 01 kéo bằng kim loại; 01 bật lửa; 03 đoạn ống nhựa dạng ống hút; 13 túi nilon dạng kít; 01 cân tiểu ly; 300.000 đồng tiền Ngân hàng N1 mà T bán ma túy cho H1 có được.
Tại kết luận giám định số 152 ngày 26/01/2024 của phòng K Công an tỉnh G, kết luận: “Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01(một) túi nilon, được niêm phong trong bì công văn, ghi “Số 1” là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,5149gam. Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01(một) túi nilon, được niêm phong trong bì công văn, ghi “Số 2” là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 6,5650gam. Chất màu trắng dạng tinh thể trong 15(mười lăm) gói nilon, được niêm phong trong bì công văn, ghi “Số 2” là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,5007gam”.
[3] Bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật, bản thân bị cáo đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích, mà lại thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý nên lần phạm tội này bị cáo đã phạm vào tình tiết định khung tăng nặng, đó là Tái phạm nguy hiểm, hành vi phạm tội của bị cáo đã bị bắt phạm tội quả tang khi đang bán ma túy với tổng trọng lượng 8,5606 gam.
Vì vậy đã có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Bùi Văn T đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo các điểm i và q khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, vì vậy cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng một hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.
[5] Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Đối với chiếc điện thoại hiệu Oppo A54 màu xanh kèm theo sim số là của bị cáo Bùi Văn T và bị cáo đã dùng để liên lạc mua, bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước;
[7] Về xử lý vật chứng:
- -Tịch thu tiêu hủy:
- - 02 (hai) bì công văn dán kín cùng ghi số 152/PC09 ngày 26/1/2024 dấu niêm phong của Phòng K công an tỉnh G. (có chữ ký của Nguyễn Đức H2, Bùi Sĩ T1, Phạm Thế D).
- - 01 (một) hộp kim loại màu đỏ kích thước (17x8,5x10)cm. (đã qua sử dụng).
- - 01 (một) hộp nhựa màu xanh có in dòng chữ XYLITOL. (đã qua sử dụng);
- - 01 (một) kéo bằng kim loại. (đã qua sử dụng);
- - 01 (một) bật lửa. (đã qua sử dụng);
- - 03 (ba) đoạn ống nhựa dạng ống hút. (đã qua sử dụng);
- - 13 (mười ba) túi nilon kít;
- - 01 (một) cân tiểu ly. (đã qua sử dụng):
- - 01 (một) áo lạnh màu đen. (đã qua sử dụng).
- -Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 300.000đ tiền Ngân hàng N1.
- -Tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động hiệu Oppo A54 màu xanh kèm theo sim số (điện thoại cũ, đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng bên trong).
[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng khoản điểm i, q Khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2024.
3.Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật hình sự
- -Tịch thu tiêu hủy:
- - 02 (hai) bì công văn dán kín cùng ghi số 152/PC09 ngày 26/1/2024 dấu niêm phong của Phòng K công an tỉnh G. (có chữ ký của Nguyễn Đức H2, Bùi Sĩ T1, Phạm Thế D).
- - 01 (một) hộp kim loại màu đỏ kích thước (17x8,5x10)cm. (đã qua sử dụng).
- - 01 (một) hộp nhựa màu xanh có in dòng chữ XYLITOL. (đã qua sử dụng);
- - 01 (một) kéo bằng kim loại. (đã qua sử dụng);
- - 01 (một) bật lửa. (đã qua sử dụng);
- - 03 (ba) đoạn ống nhựa dạng ống hút. (đã qua sử dụng);
- - 13 (mười ba) túi nilon kít;
- - 01 (một) cân tiểu ly. (đã qua sử dụng):
- - 01 (một) áo lạnh màu đen. (đã qua sử dụng).
- -Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 300.000đ tiền Ngân hàng N1.
- -Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo A54 màu xanh kèm theo sim số (điện thoại cũ, đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng bên trong).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT công an T2 và Chi cục thi hành án dân sự TP. Pleiku).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ nhà nước.
5.Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo:
Căn cứ các Điều 331; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Báo cho: bị cáo Bùi Văn T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án hôm nay (ngày 30/7/2024).
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
|
Bản án số 146/2024/HSST ngày 30/07/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 146/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo mua bán trái phép cất ma túy
