|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 146/2023/HNGĐ-ST Ngày 20 - 10 - 2023 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thành Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Trần Quang Vinh;
- 2. Ông Phạm Văn Liệt.
Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Phong, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Không có tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 29 tháng 9 và ngày 20 tháng 10 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp; mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 232/2023/TLST-HNGĐ, ngày 25 tháng 4 năm 2023; về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2023; quyết định hoãn phiên tòa số: 110/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29/9/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Trần Thị Mộng Đ (có mặt);
- Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: anh Huỳnh Thanh L (vắng mặt).
- Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp – hòa giải và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Trần Thị Mộng Đ trình bày: chị và anh Huỳnh Thanh L sự mai mối của bà con và được gia đình hai bên tổ chức đám cưới vào năm 2004; đến ngày 13/9/2013 anh chị đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Đồng Tháp.
Thời gian đầu thì vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2021 thì xảy mâu thuẩn vợ chồng bất đồng ý kiến và thường xuyên cải vã với nhau, nên chị đã ly thân với anh tháng 4/2021 đến nay không hàn gắn lại được; vậy nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh quy định.
Về con chung: chị và anh 02 người con chung là cháu Huỳnh Thị T L1 sinh ngày 11/9/2007; cháu Huỳnh H L2 sinh ngày 16/9/2013 hiện nay chị đang nuôi dưỡng. Chị yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu L1 và cháu L2 đến khi mỗi đủ 18 tuổi, chị không có yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: chị và anh thỏa thuận giải quyết với nhau, nên không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Huỳnh Thanh L: Đã được Tòa án tống đạt hợp lệ theo quy định gồm Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra giao nộp công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa. Nhưng đến nay anh L vẫn cố tình vắng mặt (không có lý do), không đến Tòa án để tham gia tố tụng và không gửi văn bản trình bày ý kiến hay cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án xem xét giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nội dung tranh chấp giữa chị Trần Thị Mộng T và anh Huỳnh Thanh L làm phát sinh “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” được quy định tại các Điều 56, 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình thụ lý giải quyết là đúng theo quy định pháp luật; về thẩm quyền được quy định tại các Điều 28, 35, 36, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về tố tụng: Trong quá trình tiến hành tố tụng Tòa án đã tống đạt hợp lệ theo quy định cho anh Huỳnh Thanh L gồm: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra giao nộp công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa; nhưng anh L vẫn cố tình vắng mặt, không đến tham gia tố tụng tại Tòa án theo quy định.
Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh L là phù hợp theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Đ và anh L được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, không bị cưỡng ép hoặc lừa dối; anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tại phiên tòa hôm nay, chị Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L theo quy định pháp luật.
Đối với anh Huỳnh Thanh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo quy định, nhưng trong suốt quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ và tại phiên tòa hôm nay anh L vẫn cố tình vắng mặt (không có lý do), nên không có văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án xem xét giải quyết.
Xét thấy, chị Đ và anh L làm vợ chồng từ tháng 4 năm 2021 đến nay là hơn 02 năm không có hàn gắn tình cảm lại được; nguyên nhân do lỗi ở anh L trong thời gian chung sống không lo làm ăn, chăm sóc gia đình anh L thường xuyên ăn nhậu nên vợ chồng thường xảy ra chuyện cãi vã, chị Đ đã nhiều lần khuyên can nhưng anh L không thay đổi.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đ đối với anh L, là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Vì vậy, căn cứ vào quy định trên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Mộng Đ với anh Huỳnh Thanh L là phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về con chung: cháu Huỳnh Thị T L1 sinh ngày 11/9/2007 và cháu Huỳnh H L2 sinh ngày 16/9/2013 hiện nay đang sống với chị Đ; theo khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chị Đ được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung L1 và cháu L2 đến khi mỗi cháu đủ 18 tuổi; anh L không phải cấp dưỡng nuôi con, do chị Đ không có yêu cầu là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Tại phiên tòa hôm nay, chị Đ thống nhất để chị và anh L tự thỏa thuận giải quyết với nhau, nếu không được thì sẽ khởi kiện bằng một vụ kiện khác, hiện nay không có yêu cầu Tòa án giải quyết; do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết, là phù hợp theo quy định pháp luật.
[6] Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình không có tham gia phiên tòa, vì trong quá trình tiến hành tố tụng đương sự tự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án xem xét giải quyết theo quy định, nên Tòa án chưa tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình không có tham gia phiên tòa đối với vụ án, là phù hợp theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[7] Chi phí án phí ly hôn theo quy định.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 21, 28, 35, 36, 39 và Điều 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a, khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Mộng Đ với anh Huỳnh Thanh L.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trần Thị Mộng Đ với anh Huỳnh Thanh L.
- Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Đ giao cho chị Đ được quyền tiếp tục nuôi dưỡng cháu Huỳnh Thị T L1 sinh ngày 11/9/2007 và Huỳnh H L2 sinh ngày 16/9/2013 đến khi mỗi cháu đủ 18 tuổi; anh L không phải cấp dưỡng nuôi cháu L1 và cháu L2, do chị Đ không có yêu cầu cấp dưỡng.
- Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đ không có yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết, để chị và anh L tự thỏa thuận giải quyết với nhau, nếu không được thì sẽ khởi kiện bằng một vụ kiện khác sau khi ly hôn theo quy định pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Chị Trần Thị Mộng Đ chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn, được trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo ký hiệu biên lai thu BF 2022 số: 0002024 ngày 18/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình.
- - Anh Huỳnh Thanh L không phải chịu tiền án phí ly hôn.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án; riêng anh Huỳnh Thanh L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao (bản án) hoặc kể từ ngày Tòa niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐÃ KÝ Phạm Thành Triều |
Bản án số 146/2023/HNGĐ-ST ngày 20/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 146/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/10/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Mộng Đ2 với anh Huỳnh Thanh L.
