Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 146/2024/DS-ST

Ngày: 20/6/2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Sơn Hùng; Bà Trương Thị Thu Thủy

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Trang - Kiểm sát viên

Từ ngày 18 tháng 6 năm 2024 đến ngày 20 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 122/2023/TLST-DS ngày 30 tháng 6 năm 2023 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 178/2024/QÐST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 218/2024/QÐST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2024, Thông báo về thời gian tiếp tục phiên tòa số: 25/TB-TA ngày 07/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 283/2024/QÐST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Minh T, sinh năm 1979; nơi cư trú: số C, tổ B, khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn anh Lê Minh T: Luật sư Phạm Thái B - Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A. Địa chỉ: tổ D, khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Ngô Văn H, sinh năm 1957; nơi cư trú: số E, tổ B, khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Thanh S, sinh năm 1973, bà Phan Thị M, sinh năm 1969. Nơi cư trú: tổ B, khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

- Bà La Thị T1, sinh năm 1954. Nơi cư trú: tổ B, khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

- Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 – Chi nhánh C1. Địa chỉ: số B, L, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.

Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 – Chi nhánh C1: anh Nguyễn Quí V – chức danh: chuyên viên tư vấn – Phòng G. Địa chỉ: số C, quốc lộ I, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Là người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền số 20/UQ-VCB-CĐO.HCNS ngày 20/5/2024). Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lê Minh T trình bày: Anh được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS12028 ngày 05/10/2022 thửa số: 11, tờ bản đồ số: 9, diện tích: 57,7m² tọa lạc tại khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang. Về nguồn gốc tranh chấp trước đây là của bà ngoại anh bà Lê Thị C chưa được cấp giấy chứng nhận cho lại bà Lê Thị R (bà R là mẹ anh T); bà R được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03944 QSDĐ/gF ngày 31/5/2002 diện tích 57,70m². Sau khi bà R chết thì những người thừa kế đồng ý giao lại phần đất này cho anh quản lý, sử dụng. Trước đây khoảng năm 2000 bà ngoại anh là bà C cho ông H cất nhờ để làm kho chứa đồ, việc cho cất nhờ các bên chỉ nói miệng không làm giấy tờ, anh đã nhiều lần yêu cầu ông H tháo dỡ di dời nhà kho nhưng ông không đồng ý.

Anh yêu cầu ông Ngô Văn H có nghĩa vụ tháo dỡ kho (vách tường, mái tole) trả lại diện tích 18,6m² theo các điểm 4, 35, 34, 29, 5 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 04/10/2023 của Công ty TNHH Đ nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS12028 ngày 05/10/2022 thửa số: 11, tờ bản đồ số: 9, diện tích: 57,7m² mang tên Lê Minh T, tọa lạc tại khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang.

Đối với phần đất có diện tích 0,3m² tại các điểm 2, 34, 35 là của ông Ngô Thanh S nên không có yêu cầu gì.

Đối với phần trình bày của ông H cho rằng phần đất này đã nhận chuyển nhượng của bà C là không đúng. Vì bà C không có bán đất, cũng không có nhận vàng và cũng không ký tên vào Tờ mua bán đất. Hơn nữa người làm chứng trong tờ mua bán mà ông H cung cấp là ông Nguyễn Văn N, Bùi Văn N1 cũng trình bày là do ông H mang đến nhờ ký tên và họ không trực tiếp chứng kiến việc mua bán đất.

Đối với đoạn ghi âm mà ông H cung cấp anh xác định đúng là giọng nói của anh và của ông H, tuy nhiên hai bên chỉ nói chuyện với nhau, trong đoạn ghi âm anh không hề thừa nhận phần đất tranh chấp là của ông H, hơn nữa các bên cũng không xác định được là phần đất nào, diện tích bao nhiêu, tại đâu. Ngoài ra, việc ông H tự ý ghi âm cuộc nói chuyện và không chứng minh được xuất xứ như ngày tháng năm ghi âm và ông H thừa nhận cắt ghép đoạn ghi âm từ file gốc do đó không được xem là chứng cứ để chứng minh.

* Bị đơn ông Ngô Văn H trình bày: Ông không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì:

Thứ nhất: Về nguồn gốc đất tranh chấp: Vào năm 2000 ông có nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị C diện tích ngang 3,30 m dài 6,20m với giá 03 chỉ vàng 24 kara có làm tờ bán đất ngày 13/01/2000 bà C có gạch thập (do bà không biết chữ), có 02 người làm chứng là ông Nguyễn Công N2Bùi Văn N1. Tuy nhiên Tờ bán đất này đã bị mất không còn nên khoảng năm 2022 ông tự viết lại Tờ bán đất đề ngày 13/01/2000 cũng với nội dung như Tờ bán đất trước đây. Tại phần người bán Lê Thị C có dấu gạch thập là do ông tự gạch vào do thời điểm này bà C đã chết. Có 02 người làm chứng Nguyễn Công N2Bùi Văn N1 cùng ký tên.

Từ năm 2000 sau khi nhận chuyển nhượng ông xây cất 01 cái kho dùng để chứa đồ phế liệu diện tích ngang khoảng 03m dài khoảng 6m và quản lý sử dụng từ đó đến nay. Ông quản lý hơn 20 năm nay có nhiều người biết phần đất này.

Thứ hai: Khoảng năm 2021 anh T có đến gặp ông để hỏi mua lại phần đất khoảng 18,6m² mà các bên đang tranh chấp nhưng ông không đồng ý bán và tại buổi nói chuyện ông có ghi âm lại cuộc nói chuyện của hai người.

Về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Lê Minh T ông có ý kiến như sau: Trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS12028 ngày 05/10/2022 do Lê Minh T đứng tên không thể hiện cái kho của ông, trong khi cái kho ông xây cất năm 2000, nhưng giấy chứng nhận cấp cho anh T vào năm 2022. Ông chỉ trình bày cho Tòa án biết vì sao khi cấp giấy lại không thể hiện cái kho của ông.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà La Thị T1 trình bày: Bà là vợ của ông Ngô Văn H, bà thống nhất theo phần trình bày của ông H, không có yêu cầu gì. Phần đất tranh hiện do ông H quản lý sử dụng.

Ông Ngô Thanh S, bà Phan Thị M trình bày: Ông S và bà M là vợ chồng, ông H là anh ruột của ông S, anh T là cháu (gọi ông S là cậu). Đối với phần đất có diện tích 0,3m² tại các điểm 2, 34, 35 là của vợ chồng ông bà nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp, ông bà không có tranh chấp hay yêu cầu gì.

Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 – Chi nhánh C1 anh Nguyễn Quí V trình bày: Anh Lê Minh T có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS12028 ngày 05/10/2022 thửa số: 11, tờ bản đồ số: 9, diện tích: 57,7m² tọa lạc tại khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang để vay tiền tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 – Chi nhánh C1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 38/2023/VCB.CĐ ngày 28/02/2023. Quá trình thực hiện anh T làm đúng nghĩa vụ của bên vay nên Ngân hàng không có yêu cầu đối với việc tranh chấp giữa anh T và ông H.

* Người làm chứng ông Nguyễn Công N2 trình bày: Ông có mối quan hệ họ hàng với anh T và ông H. Về nguồn gốc đất tranh chấp giữa anh T và ông H trước đây là của bà Lê Thị C cho lại bà R đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, sau đó cho lại con là Lê Minh T. Ông có ký tên vào Tờ bán đất đề ngày 13/01/2000 giữa người bán: Lê Thị C và người mua Ngô Văn H, nhưng ông không chứng kiến việc mua bán, cũng không biết có việc mua bán đất hay không. Ông ký tên vào Tờ bán đất đề ngày 13/01/2000 là vì không nhớ vào ngày tháng nào nhưng nằm trong năm 2022 ông H có mang một tờ giấy (là Tờ bán đất đề ngày 13/01/2000 giữa người bán: Lê Thị C và người mua Ngô Văn H) nhờ ông ký tên giùm. Ông có xem lại nội dung nhưng không để ý ngày tháng năm. Ông có nói với ông H là theo tôi biết được phần đất này bà C đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ và đã cho lại con là anh T, anh kêu tôi ký như vậy không có giá trị gì đâu”. Ông H nói: “anh cứ ký tên đi, không có gì đâu.

Ông Bùi Văn N1 trình bày: Ông là hàng xóm và không có mối quan hệ họ hàng gì với anh T và ông H. Về nguồn gốc đất tranh chấp giữa anh T và ông H trước đây là của bà Lê Thị C cho bà R đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, sau đó cho lại con là Lê Minh T. Ông có ký tên vào Tờ bán đất đề ngày 13/01/2000 giữa người bán: Lê Thị C và người mua Ngô Văn H, nhưng ông không chứng kiến việc mua bán, cũng không biết có việc mua bán đất hay không. Ông ký tên vào Tờ bán đất đề ngày 13/01/2000 là vì không nhớ vào ngày tháng năm nào (chỉ nhớ là trên 20 năm) ông H có mang một tờ giấy nhờ ông ký tên chứng kiến là ông có mua một phần đất của bà C, ông có ký tên vào tờ giấy đó, ông không có xem lại nội dung, ông không trực tiếp chứng kiến việc mua bán đất nhưng vì là hàng xóm với nhau nên ông ký tên. Đến khoảng năm 2022 ông H tiếp tục mang một tờ giấy nhờ ông ký tên giùm, nói là tờ mua bán đất trước đây đã mất nên nhờ ông ký tên lại khi đó ông cũng không có đọc trong tờ giấy viết nội dung gì.

Lê Thị N3 trình bày tại Tờ tường trình ngày 18/12/2023: Trước đây vào năm 2000 bà thường đến nhà bà C chơi và thăm viếng. Bà cũng đã nghe chị bà là bà C bán lại một phần đất phía sau nhà cho ông Ngô Văn H để xây cất nhà kho với giá 2-3 chỉ vàng.

Theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 04/10/2023 của Công ty TNHH Đ thể hiện đất tranh chấp có diện tích 18,6m² theo các điểm 4, 35, 34, 29, 5 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS12028 ngày 05/10/2022 thửa số: 11, tờ bản đồ số: 9, diện tích: 57,7m² mang tên Lê Minh T, tọa lạc tại khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang.

Theo biên bản định giá tài sản ngày 15/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện ChâuPhú xác định đất tranh chấp có giá 2.000.000đồng/m² x 18,6m² = 37.200.000 đồng; nhà kho cáo kết cấu: vách tường, mái tole diện tích 18,6m² có giá: 2.547.000đồng/m² x 18,6m² x 40% = 18.950.000 đồng.

Tại phiên tòa

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn anh Lê Minh T: Luật sư Phạm Thái B trình bày: Đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì các lý do:

Thứ nhất: Về chứng cứ chứng minh bị đơn đưa ra là Tờ bán đất ngày 13/01/2000 là giả tạo, vì thực tế không có việc mua bán đất, cụ thể Tờ bán đất được ông H lập vào năm 2022 khi đó bà C đã chết. Ngoài ra 02 người làm chứng cũng khẳng định không chứng kiến việc mua bán, cũng không biết có việc mua bán đất hay không. Do đó đây không được xem là chứng cứ.

Thứ hai: Đối với đoạn ghi âm mà ông H cung cấp anh T xác định đúng là giọng nói của mình, tuy nhiên hai bên chỉ nói chuyện với nhau, trong đoạn ghi âm anh không hề thừa nhận phần đất tranh chấp là của ông H, hơn nữa các bên cũng không xác định được là phần đất nào, diện tích bao nhiêu, tại đâu. Ngoài ra, việc ông H tự ý ghi âm cuộc nói chuyện và không chứng minh được xuất xứ như ngày tháng năm ghi âm và ông H thừa nhận cắt ghép đoạn ghi âm từ file gốc do đó không được xem là chứng cứ để chứng minh.

Thứ ba: Tại biên bản hòa giải ngày 24/5/2023 của UBND thị trấn V ông H xác định ông có xây kho chứa lúa khoảng 17-18 năm trước, bà C chết thì bà R lấy giấy sang tên qua bà R đứng tên, khoảng 3-4 năm thì bà R chết. Như vậy chứng minh ông H đã biết được bà R đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không có ý kiến cũng không khiếu nại gì đến việc cấp giấy chứng nhận của bà R và anh T.

Thứ tư: Sau khi bà R chết thì anh Lê Minh T làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế theo đúng trình tự thủ tục và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình.

Anh Lê Minh T: Thống nhất phần trình bày của luật sư không có ý kiến bổ sung.

Bị đơn ông Ngô Văn H: Không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì:

Thứ nhất: Về nguồn gốc đất tranh chấp: Phần đất tranh chấp do ông mua của bà C có làm tờ bán đất ngày 13/01/2000. Có 02 người làm chứng Nguyễn Công N2Bùi Văn N1 cùng ký tên.

Thứ hai: Khoảng năm 2021 anh T có đến gặp ông để hỏi mua lại phần đất khoảng 18,6m² mà các bên đang tranh chấp nhưng ông không đồng ý bán và tại buổi nói chuyện ông có ghi âm lại cuộc nói chuyện của hai người, lời nói trong file ghi âm là của anh T vì vậy có giá trị pháp lý.

Ông xác định người làm chứng là bà N3 có biết việc ông mua phần đất tranh chấp của bà C, bà N3 cũng chỉ nghe nói lại chứ không trực tiếp chứng kiến việc mua bán đất.

Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 – Chi nhánh C1 anh Nguyễn Quí V trình bày: Quá trình thực hiện anh T làm đúng nghĩa vụ của bên vay nên Ngân hàng không có yêu cầu đối với việc tranh chấp giữa anh T và ông H.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

- Bị đơn cho rằng diện tích đất tranh chấp do ông mua lại của bà C từ năm 2000, chứng cứ chứng minh là Tờ bán đất ngày 13/01/2000 có 02 người làm chứng Nguyễn Công N2Bùi Văn N1 cùng ký tên. Theo ông H trình bày “Tờ bán đất ngày 13/01/2000 bà C có gạch thập (do bà không biết chữ). Tuy nhiên Tờ bán đất này đã bị mất không còn nên khoảng năm 2022 ông viết lại Tờ bán đất đề ngày 13/01/2000 cũng với nội dung như Tờ bán đất trước đây. Tại phần người bán Lê Thị C có dấu gạch thập là do ông tự gạch vào do thời điểm này bà C đã chết”. Ông H tự ý viết lại Tờ bán đất và tự ý gạch thập tại phần người bán Lê Thị C vì vậy Tờ bán đất ngày 13/01/2000 không được xem là chứng cứ. Mặc khác hai người làm chứng trong Tờ bán đất ngày 13/01/2000 là ông N2 và ông N1 cũng xác định không trực tiếp chứng kiến việc mua bán đất, việc ký tên là do ông H mang lại nhờ ký tên chứng kiến, cũng không biết có việc mua bán hay không. Vì vậy ông Ngô Văn H cho rằng đã nhận chuyển nhượng phần đất tranh chấp của bà C từ năm 2000 là không có căn cứ chấp nhận.

- Đối với file ghi âm: Anh T xác định đúng là giọng nói của anh và của ông H, tuy nhiên trong đoạn ghi âm không thể hiện phần đất tranh chấp là của ông H, các bên cũng không xác định được là phần đất nào, diện tích bao nhiêu, tại đâu. Ngoài ra, ông H cũng không chứng minh được xuất xứ như ngày tháng năm ghi âm và ông H thừa nhận cắt ghép đoạn ghi âm từ file gốc do đó không được xem là chứng cứ để chứng minh theo quy định tại khoản khoản 2 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Nguyên đơn anh Lê Minh T được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS12028 ngày 05/10/2022 thửa số: 11, tờ bản đồ số: 9, diện tích: 57,7m² nên được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình theo quy định tại Khoản 5 Điều 166 Luật Đất đai 2013

Dó đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông Ngô Văn H có nghĩa vụ tháo dỡ kho (vách tường, mái tole) trả lại diện tích 18,6m² theo các điểm 4, 35, 34, 29, 5 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 04/10/2023 của Công ty TNHH Đ nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS12028 ngày 05/10/2022 thửa số: 11, tờ bản đồ số: 9, diện tích: 57,7m² mang tên Lê Minh T, tọa lạc tại khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang.

Về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS12028 ngày 05/10/2022 do Lê Minh T đứng tên; ông H trình bày không thể hiện cái kho của ông, trong khi cái kho ông xây cất năm 2000, nhưng giấy chứng nhận cấp cho anh T vào năm 2022, ông chỉ trình bày cho Tòa án biết vì sao khi cấp giấy lại không thể hiện cái kho của ông, ông không yêu cầu gì. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Đối với phần đất có diện tích 0,3m² tại các điểm 2, 34, 35 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 04/10/2023 của Công ty TNHH Đ nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Ngô Thanh S, bà Pan Thị M1; ông S, bà M1 không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

- Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 – Chi nhánh C1 không có yêu cầu gì đối với việc tranh chấp giữa anh T và ông H nên không xem xét giải quyết.

- Đối với đồ vật trong kho là phế liệu không tranh chấp nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận; quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú. Tòa án nhân dân huyện Châu Phú nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn tháo dỡ kho (vách tường, mái tole) trả lại diện tích đất tọa lạc tại thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang. Đây là tranh chấp quyền sử dụng đất Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.

[1.2] Về việc vắng mặt của các đương sự: ông Ngô Thanh S, bà Phan Thị M vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, bà La Thị T1 đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, do vậy Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử vắng mặt là phù hợp với Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Anh Lê Minh T yêu cầu ông Ngô Văn H có nghĩa vụ tháo dỡ kho (vách tường, mái tole) trả lại diện tích 18,6m² theo các điểm 4, 35, 34, 29, 5 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 04/10/2023 của Công ty TNHH Đ nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS12028 ngày 05/10/2022 thửa số: 11, tờ bản đồ số: 9, diện tích: 57,7m² mang tên Lê Minh T, tọa lạc tại khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang.

[2.1] Theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 04/10/2023 của Công ty TNHH Đ thể hiện diện tích đất tranh chấp 18,6m² tại các điểm 4, 35, 34, 29, 5 nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS12028 ngày 05/10/2022 thửa số: 11, tờ bản đồ số: 9, diện tích: 57,7m² mang tên Lê Minh T. Đất có nguồn gốc của bà Lê Thị C cho bà Lê Thị R, sau đó bà R cho lại anh Lê Minh T.

[2.2] Nguyên đơn cho rằng sau khi mẹ anh là bà R chết anh đã làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng theo trình tự luật định. Bị đơn cho rằng diện tích đất tranh chấp do ông mua lại của bà C từ năm 2000 và ông đã xây dựng kho để chứa phế liệu.

[2.3] Ông Ngô Văn H cho rằng đã nhận chuyển nhượng của bà C từ năm 2000, chứng cứ chứng minh là Tờ bán đất ngày 13/01/2000 có 02 người làm chứng Nguyễn Công N2Bùi Văn N1 cùng ký tên. Xét thấy, theo ông H trình bày “Tờ bán đất ngày 13/01/2000 bà C có gạch thập (do bà không biết chữ). Tuy nhiên Tờ bán đất này đã bị mất không còn nên khoảng năm 2022 ông viết lại Tờ bán đất đề ngày 13/01/2000 cũng với nội dung như Tờ bán đất trước đây. Tại phần người bán Lê Thị C có dấu gạch thập là do ông tự gạch vào do thời điểm này bà C đã chết”. Theo quy định tại Điều 93, khoản 1 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “Tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận”. Ông H tự ý viết lại Tờ bán đất và tự ý gạch thập tại phần người bán Lê Thị C vì vậy Tờ bán đất ngày 13/01/2000 không được xem là chứng cứ. Mặc khác hai người làm chứng trong Tờ bán đất ngày 13/01/2000 là ông N2 và ông N1 cũng xác định không trực tiếp chứng kiến việc mua bán đất, việc ký tên là do ông H mang lại nhờ ký tên chứng kiến, cũng không biết có việc mua bán hay không. Vì vậy ông Ngô Văn H cho rằng đã nhận chuyển nhượng phần đất tranh chấp của bà C từ năm 2000 là không có căn cứ chấp nhận.

[2.4] Nguyên đơn anh Lê Minh T được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CS12028 ngày 05/10/2022 thửa số: 11, tờ bản đồ số: 9, diện tích: 57,7m². Về nguồn gốc tranh chấp trước đây là của bà Lê Thị C chưa được cấp giấy chứng nhận (bà C là bà ngoại của anh T) cho lại bà Lê Thị R (bà R là mẹ anh T) và bà R được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03944 QSDĐ/gF ngày 31/5/2002 diện tích 57,70m². Sau khi bà R chết thì anh Lê Minh T làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế theo đúng trình tự thủ tục và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình theo quy định tại Khoản 5 Điều 166 Luật Đất đai 2013

[2.5] Đối với file ghi âm: Theo USB ông H cung cấp có 03 File ghi âm gồm: Z0000063; Z0000054; Z0000053 ông H chỉ yêu cầu làm rõ nội dung File ghi âm: Z0000063. Đối với File ghi âm: Z0000063 anh T xác định đúng là giọng nói của anh và của ông H, tuy nhiên trong đoạn ghi âm không thể hiện phần đất tranh chấp là của ông H, các bên cũng không xác định được là phần đất nào, diện tích bao nhiêu, tại đâu. Ngoài ra, ông H cũng không chứng minh được xuất xứ như ngày tháng năm ghi âm và ông H thừa nhận cắt ghép đoạn ghi âm từ file gốc do đó không được xem là chứng cứ để chứng minh theo quy định tại khoản khoản 2 Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Dó đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[3] Về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS12028 ngày 05/10/2022 do Lê Minh T đứng tên; ông H trình bày không thể hiện cái kho của ông, trong khi cái kho ông xây cất năm 2000, nhưng giấy chứng nhận cấp cho anh T vào năm 2022, ông chỉ trình bày cho Tòa án biết vì sao khi cấp giấy lại không thể hiện cái kho của ông, ông không yêu cầu gì. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Đối với phần đất có diện tích 0,3m² tại các điểm 2, 34, 355 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 04/10/2023 của Công ty TNHH Đ nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Ngô Thanh S, bà Pan Thị M1; ông S, bà M1 không yêu cầu giải quyết nên không xem xét giải quyết.

[5] Ngân hàng Thương mại Cổ phần N4 – Chi nhánh C1 không có yêu cầu gì đối với việc tranh chấp giữa anh T và ông H nên không xem xét giải quyết.

[6] Đối với đồ vật trong kho là phế liệu không tranh chấp nên không xem xét giải quyết.

[7] Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định thẩm định và định giá: Chi phí đo đạc: 3.900.000 đồng; xem xét thẩm định thẩm định và định giá: 2.000.000 đồng. Tổng cộng: 5.900.000 đồng (anh T đã nộp); yêu cầu của anh T được chấp nhận nên ông H phải hoàn trả lại cho anh T số tiền này.

[8] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu 2.807.000 đồng án phí dân sự, nguyên đơn được nhận lại tạm ứng án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 93, 95, 158; 159; 160; 161, 227 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 5 Điều 166; khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 579 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bị đơn.

  1. Buộc ông Ngô Văn H tháo dỡ, di dời nhà kho có kết cấu vách tường, mái tole diện tích 18,6m² tại các điểm 4, 35, 34, 29, 5 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 04/10/2023 của Công ty TNHH Đ, tọa lạc tại khóm V, thị trấn V, huyện C, tỉnh An Giang trả lại cho anh Lê Minh T.
  2. Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc: 3.900.000 đồng; xem xét thẩm định thẩm định và định giá: 2.000.000 đồng. Tổng cộng: 5.900.000 đồng (anh T đã nộp); Ông H phải hoàn trả lại cho anh T số tiền này.
  3. Về án phí: Ông Ngô Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.807.000 đồng (hai triệu tám trăm lẻ bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Anh Lê Minh T được nhận lại tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005717 ngày 30/6/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Phú;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Lưu VP; hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 146/2024/DS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 146/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp QSDĐ (Trí - Hoá)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger